tìm ý cho bài văn nghị luận
Nếu đang viết bài cảm nhận cho một tác phẩm, có lẽ bạn nên liên hệ nó với những khái niệm và chủ đề bao quát đã được thảo luận trên lớp. Bạn có thể được giao viết bài cảm nhận cho phim ảnh, bài diễn thuyết, chuyến đi thực tế, giờ thí nghiệm hay thậm chí
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của một đoạn văn là giải thích ý nghĩa của bài thơ. Sáu câu trên giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng của hình tượng trong ca dao, đồng thời giải thích tại sao. Câu 6 là đề nghị kết luận, nêu kết quả. b.
Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận I. Tìm hiểu đề văn nghị luận 1. Nội dung và tính chất của đề văn nghị luận (1) Lối sống giản dị của Bác Hồ. (2) Tiếng Việt giàu đẹp. (Đề có tính chất giải thích, ca ngợi) (3) Thuốc đắng dã tật.
*Bài cũ: 3 - Nắm được nội dung và nghệ thuật đoạn trích - Nhớ được một số chi tiết nghệ thuật độc đáo trong đoạn trích *Bài mới: Soạn bài lập dàn ý cho bài văn tự ự kết hợp miêu tả và biểu cảm. +Đọc văn bản Món quà sinh nhật/92 + Trả lời các câu hỏi /94 IV.
Bài soạn dưới đây sẽ giúp các em chuẩn bị bài Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận thật tốt trước khi đến lớp, đồng thời cũng sẽ giúp các em có thêm những gợi ý cho phần luyện tập sau khi học bài! Ngoài ra để làm phong phú thêm kiến thức cho bản thân, các em có thể tham khảo thêm bài soạn Phân
Reicher Mann Sucht Frau Zum Heiraten.
TÌM Ý VÀ LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN1 tiếtA/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT- Nắm được pp tìm ý, lập dàn ý và nhận biết được các lỗi về lập dàn ý của bài Có kĩ năng tìm ý và lập dàn ý cho bài PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH- Nêu khái niệm, dẫn chứng, trao đổi, đàm thoại giữa thầy và trò, trò và NỘI DUNG BÀI DẠY1. On định lớp kiểm tra ss,vs, trật Kiểm tra bài cũ Nhắc lại nội dung bài học trước về cách hiểu cách tìm ý, lập dàn Bài mới 2 trang kidphuong 2710 0 Download Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Ngữ văn Tìm ý và lập dàn ý cho bài văn nghị luận 1 tiết", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trênTÌM Ý VÀ LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN 1 tiết A/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT Nắm được pp tìm ý, lập dàn ý và nhận biết được các lỗi về lập dàn ý của bài vnl. Có kĩ năng tìm ý và lập dàn ý cho bài VNL. B/ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH Nêu khái niệm, dẫn chứng, trao đổi, đàm thoại giữa thầy và trò, trò và trò. C/ NỘI DUNG BÀI DẠY Oån định lớp kiểm tra ss,vs, trật tự. Kiểm tra bài cũ Nhắc lại nội dung bài học trước về cách hiểu cách tìm ý, lập dàn ý. 3. Bài mới Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung cần đạt - Đọc và trả lời khái niệm Ý trong bài văn NL là gì? - Gv hướng dẫn hs đọc sgk. - Tìm hiểu đề 1. Gv ghi bảng. - Tìm hiểu đề 2. GV ghi bảng. - HD hs đọc sgk. - HD HS đọc sgk. - Nêu các nd chính? - HD hs thực hành theo đề sgk. - Hs trả lời. - Hs theo dõi sgk. - Hs theo dõi sgk. - Hs theo dõi sgk. - Hs theo dõi sgk. - Hs trả lời. I/ Tìm ý cho bài VNL - ý trong bài vnl là hệ thống luận điểm, luận cứ, với các cấp độ khác nhau. - Có nhiều cách tìm ý khác nhau, ở đây ta thường tiến hành 2 bước b1 Dựa vào y/c, chỉ dẫn của đề; b2 Tìm ý nhỏ bằng cách đặt ra câu hỏi và trả lời. VD Đề 1 Ptích những đóng góp của NC đv VHVN giai đoạn 1930 – 1945. B1 Xác định trọng tâm của đề. B2 Đặt câu hỏi và trả lời. Xem sgk. Đề 2 Phải chăng Cái nết đánh chết cái đẹp? B1 Xác định trọng tâm. B2 Đặt câu hỏi và tìm cách trả lời. II/ Lập dàn ý cho bài văn nghị luận - Tuỳ vào đề, đối tượng cần thuyết phục và cách lập luận mà người viết có thể sắp xếp những dàn ý khác nhau. Xem ND trong sgk. III/ Những lỗi thường mắc về tìm ý và lập dàn ý Lạc ý Thiếu ý Lặp ý Yù lộn xộn IV/ Thực hành Các đề bài trong sgk. 4. Củng cố Nêu một số yêu cầu chính của việc tìm ý và lập dàn ý. 5. Hướng dẫn học bài tìm ý và lập dàn ý cho đề số 4 trong sgk. Tài liệu đính kèmtim y lap dan y cho bai
Hướng dẫn cách tìm ý cho bài văn nghị luận, khắc phục lỗi viết lan man không trọng tâm. Nhiều bạn học sinh chưa biết cách xác định luận điểm tìm ý cho bài văn nghị luận, dẫn đến việc viết lan man, nhớ đâu viết đấy, bài viết không rõ luận điểm. Bởi vậy dù có viết dài, viết sâu mà luận điểm không rõ ràng thì bài văn cũng không thể đạt điểm cao. Bài học hôm nay Admin sẽ hướng dẫn các em tìm ý cho bài văn nghị luận, khắc phục lỗi viết lan man, xa đề. Mỗi dạng đề văn nghị luận đều có dàn ý riêng, muốn tìm ý cho bài văn nghị luận, trước hết các em cần nắm vững cấu trúc bài văn. Cô tạm chia ra các dạng đề sau + Nghị luận văn học Phân tích, cảm nhận về nhân vật Phân tích tình huống truyện Phân tích , cảm nhận về đoạn thơ Phân tích, cảm nhận về đoạn trích văn xuôi Nghị luận ý kiến bàn về văn học Dạng đề so sánh văn học so sánh hai đoạn thơ, hai đoạn văn, hai nhân vật, hai hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm… +Nghị luận xã hội Nghị luận về tư tưởng đạo lí Nghị luận về hiện tượng đời sống Nghị luận về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học Sau đây Admin sẽ hướng dẫn các em tìm ý Luận điểm, Luận cứ phù hợp, khắc phục lối viết văn lan man, xa đề. Ở phạm vi bài viết này, Admin hướng dẫn các em tìm ý cho bài Nghị luận văn học. Hôm sau cô sẽ viết bài hướng dẫn cách tìm ý cho bài Nghị luận xã hội. Đây là khâu đặc biệt quan trọng, vì nếu các em không đọc kĩ đề, sẽ dẫn đến việc xác định sai kiểu bài, thậm chí không hiểu vấn đề, và rơi vào ” chém gió ” là điều không tránh khỏi. Vậy chúng ta khai thác đề bài như thế nào? Đọc kĩ và gạch chân những từ trọng tâm. Cần trả lời các câu hỏi sau Đây là dạng đề nào Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết Viết lại rõ ràng luận đề ra giấy. Có 2 dạng đề Đề nổi, các em dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài. Đề chìm, các em cần nhớ lại bài học về tác phẩm ấy, dựa vào chủ đề của bài đó mà xác định luận đề. Ví dụ Nhiều bạn cứ cầm đề thi lên, nhìn thấy Mị, Vợ chồng A Phủ là cắm đầu cắm cổ viết, viết tràn lan không có luận điểm ,như vậy rất nguy hại . Các em cần gạch chân những từ khoá trọng tâm của đề bài để xác định hướng triển khai cho phù hợp! Những từ khoá này sẽ giúp các em xác định rõ phần thân bài sẽ phải viết những gì. Bước 2 Tìm ý cho bài văn. Tìm ý như thế nào ? Các em dựa vào dàn ý chung của mỗi kiểu bài để tìm ý nhé. Muốn tìm đúng luận điểm, các em cần nắm vững các bước làm bài, đồng thời phải nắm được nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Ví dụ Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm có dàn ý sơ lược như sau Mở bài dẫn dắt ý kiến Thường giới thiệu tác giả, tác phẩm và đi vào ý kiến. Hoặc dựa vào nội dung của ý kiến để dẫn dắt và trích dẫn ý kiến Thân bài + Giải thích, làm rõ vấn đề Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong ý kiến . Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung của cả ý kiến. Thường trả lời các câu hỏi Ý kiến trên đề cập đến vấn đề gì? Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào? + Bàn bạc, khẳng định vấn đề. Có thể lập luận theo cách sau – Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai? cụ thể? – Lí giải tại sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định được như vậy? – Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và trong cuộc sống?phân tích và lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học. +Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học. • Kết bài + Khẳng định lại tính chất đúng đắn của vấn đề. +Rút ra những bài học cho bản thân từ vấn đề. Từ dàn ý trên, các em có thể hình dung mình cần viết những luận điểm nào cho bài văn. Ví dụ 2 Kiểu bài phân tích,so sánh, cảm nhận về hai nhân vật ta lại có dàn ý khác MỞ BÀI – Dẫn dắt mở bài trực tiếp không cần bước này – Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm và nhân vật thứ nhất. – Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm và nhân vật thứ hai. -Giới thiệu vấn đề nghị luận THÂN BÀI 1. Phân tích nhân vật thứ nhất tích nhân vật thứ hai Chú ý bám sát vấn đề nghị luận 3. So sánh nét tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật 4. Lý giải sự khác biệt KẾT BÀI – Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu – Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân. Từ dàn ý trên, các em có thể tìm được luận điểm cho bài văn của mình, tránh sa đà vào phân tích văn xuôi như kể chuyện và phân tích thơ như diễn dụ 3 Kiểu bài cảm nhận về đoạn thơ, đoạn trích văn xuôi Mở bài – Giới thiệu tác giả, giới thiệu bài thơ, đoạn thơ, đoạn văn hoàn cảnh sáng tác, vị trí,… – Dẫn bài thơ, đoạn thơ. * Thân bài – Làm rõ nội dung tư tưởng, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ , đoạn văn – Bình luận về giá trị đoạn thơ, đoạn văn,… * Kết bài Đánh giá vai trò và ý nghĩa đoạn thơ, bài thơ, đoạn trích văn xuôi trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Còn nhiều kiểu bài NLVH nữa, cô chỉ lấy 3 ví dụ tiêu biểu như trên. Bước 3 Tìm luận cứ Sau khi tìm được các luận điểm cho bài văn, chúng ta tiến hành tìm luận cứ. Khi xây dựng lập luận, điều quan trọng nhất là phải tìm cho được các luận cứ có sức thuyết phục cứ hiểu nôm na là những ý nhỏ, triển khai cho luận điểm. Luận cứ có thể là dẫn chứng, lí lẽ làm sáng tỏ cho luận điểm. Vậy tìm luận cứ như thế nào ? Cô hướng dẫn các em như sau + Trước hết, luận cứ phải phù hợp với yêu cầu khẳng định của luận điểm. Nội dung của luận cứ phải thống nhất với nội dung của luận điểm. Chẳng hạn muốn bình bài thơ hay, cần chọn được bài thơ hay, câu thơ hay. + Thứ hai, luận cứ phải xác thực, tức là nó phải đúng đắn. Khi nêu luận cứ, người viết cần biết chính xác về nguồn gốc, các số liệu, các sự kiện, tiểu sử nhân vật,… Biết không chắc chắn thì chưa vội sử dụng. Tuyệt đối không được bịa đặt luận cứ. Nhiều bạn không thuộc thơ, không nhớ dẫn chứng văn xuôi, dẫn đến tình trạng “Chém gió”, “đoán mò “ + Thứ ba, luận cứ phải tiêu biểu. Nếu nhà thơ có nhiều câu thơ hay thì chọn câu thơ tiêu biểu cho phong cách độc đáo của nhà thơ ấy. Nếu chọn chi tiết về nhân vật thì chọn chi tiết tiêu biểu nhất cho tính cách của nhân vật ấy. Ví dụ phân tích nhân vật T Nú không thể bỏ qua hình ảnh đôi bàn tay bị đốt. +Thứ tư, luận cứ phải vừa đủ, đáp ứng yêu cầu chứng minh toàn diện cho luận điểm Ví dụ trong bài Tây Tiến- Quang Dũng nếu các em muốn chứng minh thiên nhiên miền Tây dữ dội, khắc nghiệt thì cần lấy những dẫn chứng ở đoạn thơ “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi…Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”., chỉ phân tích những câu thơ tiêu biểu về vẻ dữ dội, khắc nghiệt của thiên nhiên. ->> Cần trích dẫn chính xác. Nhớ nguyên văn thì đặt trong ngoặc kép, nhớ đại ý thì chuyển thành lời gián tiếp Ví dụ minh hoạ Để chứng minh cho luận điểm ” TNú là một con người gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thành tuyệt đối với cách mạng” Ta có các luận cứ sau Ngay từ nhỏ,TNú đã cùng Mai làm liên lạc cho cán bộ ở trong rừng mà không sợ bị chặt đầu hoặc treo cổ. Khi đi liên lạc,giặc vây các ngả đường thì TNú đã “xé rừng mà đi”.Qua sông, TNú “không thích lội chỗ nước êm” mà “cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như một con cá kình”, “vì chỗ nước êm thằng Mĩ hay phục” Học chữ thua Mai thì lấy đá đập vào đầu .Điều ấy thể hiện ý thức của lòng tự trọng và ý chí quyết tâm cao. Bị giặc bắt thì nuốt luôn cái thư vào bụng, bị tra tấn không khai; một mình xông ra giữa vòng vây của kẻ thù trong tay không có vũ khí; bị giặc bắt, bị đốt mười đầu ngón tay vẫn không kêu than.. Như vậy, để lấy được những luận cứ hay, có sức thuyết phục, các em cần nắm vững nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ấy. Từ việc không thuộc , hoặc nhớ mang máng, dẫn đến tình trạng viết lan man là không thể tránh khỏi. Mẹo Ba bước trên đây chúng ta chỉ thực hiện trong 5-10 phút, sau đó dành thời gian viết bài. Gạch ý ra giấy nháp theo từng ý lớn ý nhỏ, khi làm bài, thi thoảng nhìn giấy nháp để viết, sẽ tránh được tình trạng bỏ sót ý , hoặc ý trùng lặp. Đang viết mà bất chợt nghĩ ra một ý tưởng hay, một câu thơ, câu nói liên quan, các em ghi nhanh ra giấy nháp để làm dẫn chứng cho bài văn. Xem thêm Tổng hợp những đề thi về các tác phẩm trọng tâm lớp 12Những bài văn nghị luận xã hội hay lớp 12 Xem thêm Thực hành một số biện pháp tu từ cú pháp – Ngữ văn 12 Bài 2. Khối đa diện lồi và khối đa diện đều – Toán 12 Đọc hiểu môn văn có đáp án Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên Đề đọc hiểu về Đất nước Nguyễn Đình Thi Giáo án bài Từ ấy soạn theo 5 hoạt động Bài viết cùng chủ đề Kinh nghiệm ôn thi Ngữ văn 2017 Hướng dẫn làm dạng đề cảm nhận về chi tiết trong tác phẩm văn học Hướng dẫn làm dạng đề so sánh văn học- Luyện thi học sinh giỏi môn văn Đề đọc hiểu bài thơ Tự hát của Xuân Quỳnh Một số đề nghị luận xã hội hay dành cho học sinh lớp 10-11-12 Đề đọc hiểu Ngữ Văn hay Cây xấu hổ Bạn đừng nên chờ đợi những quà tặng bất ngờ của cuộc sống mà hãy tự mình làm nên cuộc sống Đề đọc hiểu về bài Thuyền và biển của Xuân Quỳnh Đọc hiểu về tác phẩm văn học ngoài chương trình Câu hỏi Đọc hiểu về bài thơ Tự tình Hồ Xuân Hương Nghị luận xã hội Facebook trong đời sống của giới trẻ Đề nghị luận xã hội Suy nghĩ về câu chuyện Một người ăn xin Nghị luận xã hội thông điệp gửi tới Đảo Trường Sa Nghị luận xã hội Suy nghĩ về lối sống đẹp Nghị luận xã hộiTrên đường thành công không có vết chân của người lười biếng Đề đọc hiểu về bài Thời gian của Văn Cao, SGK Ngữ văn 10
Ôn thi THPT Quốc gia môn Văn bằng sơ đồ tư duyLập dàn ý bài văn nghị luận bằng bản đồ tư duyLập ý là để chuẩn bị cơ sở quan trọng cho việc lập dàn ý của bài viết. Nó có tác dụng định hướng cho bài, giúp các hệ thống luận đề trở nên chặt chẽ, chính xác, sâu sắc hơn, hạn chế tình trạng phổ biến ở học sinh hiện nay là khi viết thường bị lạc đề, xa đề, thừa ý, kết cấu lộn xộn, không cân đối, bài làm không đúng thể loại... Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo phương pháp lập dàn ý bằng bản đồ tư duy. Hi vọng phương pháp này sẽ giúp các em ôn thi THPT Quốc gia môn Văn hiệu quả thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn bằng bản đồ tư duyDẫn chứng cho bài nghị luận xã hộiBản đồ tư duy môn Văn ôn thi THPT Quốc gia1. Mối quan hệ giữa lập ý và xây dựng bản đồ tư duyBướcLập ýXây dựng bản đồ tư duy1Phân tích đề bài, tìm chủ đề cho bài viếtXác định từ khóa/ hình ảnh thể hiện ý tưởng trung tâm của bản đồ2Tìm ý, xác định các nội dung có liên quan đến chủ đề bài viếtTừ ý tưởng trung tâm, triển khai ý tưởng này thành các nhánh. Mỗi nhánh thể hiện một khía cạnh, vấn đề cụ thể hóa cho trung tâm chọn và sắp xếp ý tìm được theo một trật tự logic nhất địnhTổ chức lại bản đồ tư duy bằng cách lược bỏ bớt những yếu tố không cần thiết, đánh dấu thứ tự các nhánh theo logic nhất định4Lập dàn ý và hoàn thiện văn bản Thực chất, đây là bước mở đầu cho một kĩ năng khác nhưng vẫn cần nêu ở đây để thấy tính kết nối của toàn bộ quá trình làm văn!Hoàn thiện bản đồ tư duy2. Các bước xây dựng bản đồ tư duyBước 1. Phân tích đề bàiDựa theo những kiến thức đã học về kiểu bài nghị luận, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích yêu cầu của đề bài trên hai tiêu chí nội dung và hình thức. Trong đó, trả lời các câu hỏi cụ thể như đây là kiểu bài gì? Vấn đề cơ bản của bài viết? Bài viết cần đáp ứng những yêu cầu gì về cách thức sử dụng ngôn ngữ và tổ chức văn bản? có thể áp dụng những thao tác lập luận nào để bài viết sinh động, thuyết phục?... Theo đó, bước Phân tích đề bài giúp người viết có cái nhìn khái quát về các yêu cầu cần thực 2. Hướng dẫn tìm ýVề bản chất, tìm ý gắn liền với việc người viết xác định những luận đề, luận điểm cho bài viết của mình. Ở đây, mới dừng lại ở hoạt động "tìm" chứ chưa đòi hỏi người viết phải sắp xếp thành trật bước này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm ý thông qua các thao tác nhỏ cụ thể như sauNêu vấn đềNội dung cần đạtXây dựng bản đồMinh họaChủ đề bài viết là gì?Sống đẹpĐưa vào làm ý tưởng trung tâm của bản đồ, ghi ra giữa trang giấyNhững vấn đề nào có thể triển khai xung quanh khái niệm "sống đẹp?"* Gợi ý học sinh tự liệt kê trong tư Sống đẹp là gì?- Sống đẹp có cần thiết không? Vì sao?- Sống đẹp được biểu hiện cụ thể bằng những giá trị như thế nào?- Có những điều gì cần tránh để trở thành người sống đẹp?- Có ví dụ nào trong thực tiễn không?[...]- Lấy từ khóa ngắn gọn cho mỗi vấn đề tìm được, đưa mỗi từ khóa ấy về một nhánh với xuất phát điểm là ý tưởng trung tâm. Khuyến khích học sinh ghi ra tối đa các từ khóa xuất hiện trong suy Mỗi nhánh từ khóa có thể vẽ bằng một màu sắc khác nhau cho dễ nhận Có thể vẽ theo một chiều trái – phải hoặc phải – mỗi ý lớn tìm được, hãy phát triển thành các ý nhỏ cụ thể hơn, trả lời cho từng câu hỏi đã có?- Sống đẹp là gì?+ ý nghĩa câu thơ+ biểu hiện đẹp của cuộc sống con người+ sống có lí tưởng, hoài bão, biết hi sinh [...]- Biểu hiện+ có khát vọng, lí tưởng+ có trí tuệ sáng suốt, rộng mở đón nhận hiểu biết [...]- Tiếp tục coi mỗi từ khóa ở các nhánh là điểm trung tâm bậc 2, vẽ tiếp các nhánh nhỏ hơn, trên mỗi nhánh nhỏ hơn ghi các nội dung cụ thể, chi Liệt kê tất cả các nội dung cụ thể minh họa cho vấn đề ở mỗi Ghi tóm lược nội dung ý, tránh dài dòng.Hình 1Hình 1 – Sản phẩm thao tác Tìm ýTrong bước này, có thể nhận thấy bản đồ tư duy khắc phục nhược điểm tuyến tính và hạn chế về độ mở của kiểu liệt kê tuyến tính. Với mỗi một ý tưởng nảy sinh, người viết đưa nó thành một nhánh của bản đồ, minh họa bằng hình ảnh sinh động nếu muốn; mở rộng bản đồ tư duy từ khái quát đến cụ thể đến khi có thể. Hiểu biết và năng lực phát hiện của người viết về vấn đề càng phong phú, sâu sắc bao nhiêu thì càng có thể làm nảy sinh nhiều ý tưởng bấy 3. Lựa chọn và sắp xếp ý theo trật tự logicKhi đã liệt kê được các ý tưởng nảy sinh trong đầu óc, người viết phải sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí, theo quy luật của tư duy logic. Trong thực tế, nhiều khi việc sắp xếp ý đã diễn ra song song với quá trình tìm ý. Tuy vậy, vẫn phải thực hiện bước đi này để đảm bảo chắc chắn quan hệ giữa các ý là có chủ đích. Bởi trong khi lập ý, việc sắp xếp trình tự các ý lớn, ý nhỏ đóng vai trò hết sức quan trọng. Một mặt, nó bộc lộ cách nhận thức của chủ thể về vấn đề đang bàn; mặc khác, nó lại có tác động không nhỏ tới tâm lí, tình cảm của người tiếp nhận về việc triển khai nội dung cho một đề làm văn trong nhà trường phổ thông, người viết không thể và cũng không cần thiết phải đưa vào tất cả những hiểu biết của mình. Mỗi đề bài thường có yêu cầu riêng đòi hỏi người viết phải huy động lĩnh vực kiến thức nhất định và vận dụng tới những kĩ năng chuyên biệt. Từ sơ đồ đã có sau bước hai, giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn các ý phù hợp cho bài viết của mình, đảm bảo lấy những ý quan trọng nhất, làm bật được nội dung tư tưởng của bài cũng như phù hợp với dung lượng, thời gian yêu cầu. Đồng thời, tiến hành phân loại, sắp xếp các ý theo trình tự nhất định, đảm bảo tính logic, phát triển. Để làm được việc đó, học sinh không cần thiết vẽ lại sơ đồ theo trật tự mà có thể sử dụng con số, mũi tên, các kí hiệu riêng... để đánh dấu thứ tự trước – 2 – Sản phẩm thao tác lựa chọn và sắp xếp ý theo trật tự logicVới bản đồ tư duy đã có này, có thể thấy sản phẩm của thao tác lập ý không còn ở dạng tuyến tính theo kiểu truyền thống mà được "mã hóa lại" dưới dạng hình ảnh. Mỗi học sinh khác nhau có thể tạo ra một kiểu hình ảnh khác nhau. Điều này xuất phát từ việc mỗi chủ thể độc lập có một kiểu loại tư duy, khả năng khám phá, kĩ năng thể hiện và độ mở trong nhận thức hoàn toàn riêng biệt. Vì thế, so với cách làm trước đây, lập ý bằng bản đồ tư duy cho phép giáo viên đánh giá chuẩn xác hơn năng lực học sinh. Từ đó, có biện pháp điều chỉnh quá trình dạy học một cách phù hợp.
Lượt xem 794 FINDING IDEAS FOR LITERARY DISCOURSE NGUYỄN BÍCH TRÂMTrường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng TÓM TẮT Nghị luận văn học là một kiểu văn bản trọng tâm trong chương trình Ngữ văn các cấp. Để có một văn bản nghị luận hay, việc tìm kiếm ý tưởng là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều học sinh, sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các ý tưởng cho bài nghị luận văn học. Bài viết là một đóng góp của người viết nhằm hỗ trợ người học khắc phục khó khăn trong việc tìm ý tưởng cho kiểu văn bản này. Từ khóa Tạo lập văn bản, nghị luận văn học, ý tưởng. ABSTRACT Literary discourse is very important in school’s literacy program at all levels. In order to have a good text, finding the right ideas is essential. However, in reality, many students find it difficult to find ideas for writing literary discourse. This article makes a contribution to support students to overcome difficulties in finding ideas for the literary discourse text. Keywords Writing, literary discourse, ideas. xx x 1. Mở đầu Tạo lập văn bản là một kỹ năng quan trọng mà người học cần rèn luyện ngay từ trên ghế nhà trường bởi sự cần thiết của nó đối với thực tiễn cuộc sống của mỗi người. Chính vì vậy, tạo lập văn bản được xem là một trong những nội dung trọng tâm trong chương trình Ngữ văn các cấp. Các kiểu văn bản thuộc nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau như văn miêu tả, thuyết minh, tự sự, nghị luận, thư, đơn từ, hợp đồng… đã góp phần giúp người học hình thành kỹ năng tạo lập các văn bản thông dụng, cần thiết trong đời sống. Trong số những kiểu văn bản được giảng dạy trong nhà trường, nghị luận văn học là một trong những nội dung trọng tâm của tạo lập văn bản mà người học cần rèn luyện. Đây là một kiểu bài gắn liền với học sinh HS ở phổ thông qua các cấp học và tiếp tục là “bạn đồng hành” với nhiều sinh viên SV trong chương trình đào tạo của các ngành có liên quan đến Văn học. Tuy nhiên, hiện nay, rất nhiều người học không biết cách viết một bài nghị luận văn học. Một trong những biểu hiện của hạn chế đó chính là sự nghèo nàn về ý tưởng trong các bài viết. Trước thực tế đó, chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu những khó khăn của người học trong việc tìm kiếm ý tưởng cho bài nghị luận văn học, qua đó đề xuất một số giải pháp hướng dẫn người học tìm ý tưởng để tạo lập kiểu văn bản nghị luận văn học đạt hiệu quả hơn. 2. Nội dung Một số vấn đề về tạo lập văn bản nghị luận văn học Tạo lập văn bản có vai trò vô cùng quan trọng đối với môn Ngữ văn trong nhà trường. Mục tiêu dạy tạo lập văn bản là phát triển năng lực cho người học năng lực lập luận, tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, phê phán, đánh giá, chứng minh, phản hồi, sáng tạo, phát triển kỹ năng giao tiếp, tạo lập văn bản theo đặc trưng từng kiểu văn bản, phát triển năng lực quan sát, tưởng tượng… Tiến trình tạo lập văn bản gồm bốn bước cơ bản nảy sinh ý tưởng; phát triển và hệ thống các ý tưởng; diễn đạt các ý thành đoạn văn, bài văn; chỉnh sửa, biên tập. “Điều cần lưu ý là các hoạt động trong giai đoạn này không hoàn toàn được thực hiện theo trình tự thời gian mà là sự đan xen của các hoạt động viết, xem lại, chỉnh sửa, viết… Nói cách khác là trong quá trình tạo lập văn bản, người viết thường xuyên trở đi trở lại các giai đoạn để xem lại, chỉnh sửa, kiểm soát các hoạt động viết” [1, tr. 118]. Nghị luận văn học là một kiểu văn bản trọng tâm trong nhà trường, thể hiện cả hai hoạt động chủ yếu của môn Ngữ văn là đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản. Vì vậy, việc dạy học kiểu bài này gắn liền với nhiệm vụ rèn luyện nhiều năng lực cho người học mà môn Ngữ văn phụ trách, trong đó có năng lực ngôn ngữ và năng lực thẩm mỹ. Bên cạnh đó, việc tạo lập tốt một văn bản nghị luận văn học còn thể hiện được khả năng tư duy của người viết, trong đó nổi bật là khả năng lập luận, thuyết phục người đọc bằng hệ thống các lý lẽ phong phú, dẫn chứng, minh họa xác đáng, liên tưởng sáng tạo, độc đáo. Để đạt được mục tiêu có được một bài nghị luận văn học hay, một bài viết cần đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau Thứ nhất, đảm bảo những yêu cầu về bố cục của văn bản nghị luận. Bố cục một văn bản nghị luận trong nhà trường gồm ba phần chính, trong đó mở bài phải giới thiệu được vấn đề cần nghị luận, thân bài là phần trọng tâm gồm hệ thống các luận điểm, luận cứ để làm rõ vấn đề đặt ra ở mở bài, kết luận hệ thống lại vấn đề đã bàn bạc và liên hệ, gợi mở thêm. Thứ hai, bài viết đảm bảo “trả lời” được những vấn đề được đặt ra ở đề bài, thể hiện hiểu biết phong phú và sâu sắc của người viết về vấn đề đang bàn bạc và những vấn đề có liên quan về văn bản, về nhân vật, nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, mảng sáng tác, giai đoạn, trào lưu văn học…. Thứ ba, liên quan mật thiết với yêu cầu về bố cục và nội dung văn bản, một bài viết tốt cần phải có sự hợp lý trong sắp xếp các luận điểm, sử dụng các luận cứ trong quá trình lập luận. Thứ tư, đảm bảo yêu cầu về diễn đạt, tức là sử dụng câu, từ phù hợp để thể hiện những ý tưởng muốn triển khai. Nghị luận văn học là kiểu văn bản có đối tượng nghiên cứu, khai thác là tác phẩm văn chương và hoạt động sáng tạo, tiếp nhận văn chương. Do đó, khi tạo lập kiểu văn bản này, ngoài những yêu cầu trên, người viết phải thể hiện được những cảm thụ sâu sắc của mình về tác phẩm, tác giả đang được đề cập. Đây là một yêu cầu quan trọng, góp phần tạo nên sự sâu sắc của bài viết. Kỹ năng viết văn nghị luận văn học của học sinh, sinh viên hiện nay Gắn liền với những yêu cầu đối với một bài văn nghị luận văn học chính là những yêu cầu đối với người viết về kỹ năng tạo lập kiểu văn bản này. Theo đó, để làm tốt một bài nghị luận văn học, trước hết, người học cần phải rèn luyện những kỹ năng chung về tạo lập văn bản nghị luận tìm hiểu đề, xác lập yêu cầu bài văn; xác định luận điểm, luận cứ, dẫn chứng, lập luận; kỹ năng viết, lập luận, diễn đạt; kỹ năng đánh giá, chỉnh sửa văn bản. Bên cạnh đó, như đã nói, để làm tốt kiểu bài văn nghị luận liên quan đến tác phẩm văn chương và hoạt động sáng tạo, tiếp nhận văn chương, người viết cần có được năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm và hiểu biết phong phú về văn chương để có thể đưa ra những nhận định, đánh giá xác đáng và thuyết phục, để bài viết có được chiều sâu cần thiết. Những yêu cầu này tùy theo từng đối tượng người học mà có những mức độ khác nhau, tuy nhiên, sự hoàn thiện về những kỹ năng này để có một bài viết tốt nhất là đích đến cuối cùng mà người học phải hướng tới. Trong những yêu cầu trên, một vấn đề rất quan trọng chính là kỹ năng xác lập các ý tưởng cho bài viết liên quan đến bước 1, 2 của tiến trình tạo lập văn bản. Đây là một kỹ năng quan trọng để có được một bài nghị luận văn học sâu sắc, thuyết phục. Tuy nhiên, đây lại chính là khiếm khuyết đang tồn tại ở đa số người học hiện nay khi thực hành tạo lập kiểu văn bản này. Như đã nói, tuy vai trò của tạo lập văn bản đã được nhấn mạnh và người học đã được rèn luyện kỹ năng này xuyên suốt các cấp học, song có một thực tế là hiện nay rất ít thấy những bài văn nghị luận của HS trọn vẹn về nội dung và hình thức như những yêu cầu đã đặt ra. Đa số người học không thể trình bày được một văn bản có bố cục hợp lý, sáng rõ. Bài viết cũng thường mắc nhiều lỗi về diễn đạt, lập luận thiếu logic. Đặc biệt, vấn đề rất quan trọng mà chúng tôi muốn nhấn mạnh trong bài viết này chính là sự hạn chế về ý tưởng của người học. Chúng ta đã biết, một bài viết phong phú, sâu sắc về ý tưởng, chặt chẽ về lập luận, diễn đạt mạch lạc, súc tích… mới là một bài viết tốt. Hệ thống các ý tưởng được sắp xếp và trình bày hợp lý chính là nòng cốt để tạo ra một bài nghị luận hay. Tuy nhiên, phần lớn HS lại thường không biết cách tìm, chọn lọc, sắp xếp các ý tưởng. Đối với nghị luận văn học, họ càng gặp nhiều khó khăn khi huy động vốn kiến thức về tác giả, tác phẩm, những nhận định, đánh giá… liên quan đến đề bài để tạo thành một hệ thống các ý tưởng cho bài viết. Trong quá trình giảng dạy các học phần liên quan đến tạo lập văn bản cho SV của trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của người học về kiểu bài nghị luận văn học. Theo đó, khi được hỏi về những khó khăn khi viết một văn bản nghị luận văn học, đa số người học đều cho rằng họ “không thể hình dung được những ý tưởng cần có khi viết bài, không biết bắt đầu viết từ đâu”, “không biết cách xác định và trình bày luận điểm, luận cứ”, “thiếu thông tin, không đào sâu được vấn đề”, “chưa xác định được yêu cầu đề bài và phạm vi cần khảo sát”, “chưa liên hệ được những kiến thức từ thực tiễn vào trong bài viết”, “lập luận không chặt chẽ, diễn đạt chưa tốt”… Trong những phản hồi của người học, chúng tôi nhận thấy khó khăn mà họ gặp phải chủ yếu ở vấn đề xác định, hệ thống hóa và trình bày các ý tưởng cho bài văn. Thực tế các bài viết của các em cũng thể hiện điều này. Với đề bài “Giá trị nhân đạo trong tác phẩm Cô bé bán diêm của nhà văn Anđéc-xen”, trên 50% SV tham gia viết bài đều triển khai văn bản không đúng các ý trọng tâm cần có. Với đề bài này, các ý chính có thể triển khai để làm rõ bao gồm biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm; những đánh giá về giá trị nhân đạo của tác phẩm; bên cạnh đó còn có các ý khác giới thiệu về tác giả, tóm tắt nội dung tác phẩm… Tuy nhiên, đa số người viết chỉ tập trung vào cốt truyện, kể lại những chi tiết liên quan đến cuộc đời, số phận bất hạnh của cô bé bán diêm. Các bài viết không khái quát được các ý tưởng về “biểu hiện của giá trị nhân đạo” lấy từ tình tiết tác phẩm, thiếu những nhận định đánh giá, liên hệ mở rộng… Những hạn chế trong triển khai ý tưởng bài văn nghị luận văn học của HS, SV hiện nay đã dẫn đến tình trạng xuất hiện những văn bản “cực ngắn”, “diễn xuôi” tác phẩm, nội dung đề bài; nghĩ gì viết đó, không chủ đích giải quyết vấn đề đề bài đặt ra… Tình trạng này dẫn đến chất lượng bài viết của người học thường không cao, đồng thời dẫn đến những tiêu cực như lấy ý tưởng có sẵn của người khác hoặc lệ thuộc vào những văn bản mẫu. Đề xuất cách thức tìm ý tưởng để tạo lập văn bản nghị luận văn học Ý tưởng để tạo lập một văn bản nghị luận văn học rất phong phú và có thể tìm thấy từ nhiều kênh thông tin. Đó có thể là những kiến thức về tác giả, tác phẩm người học có được qua các giờ học, những thông tin về tác giả, tác phẩm được đọc thêm từ sách, báo, những nhận định, đánh giá của các nhà phê bình về tác giả, tác phẩm, vốn hiểu biết thực tế, trải nghiệm, những phát hiện riêng khi đọc tác phẩm, những xúc cảm của người viết về các chi tiết, nhân vật trong tác phẩm… Điều quan trọng là người học biết cách tìm và sắp xếp các ý tưởng hợp lý, đáp ứng được yêu cầu của đề bài. Dưới đây, chúng tôi sẽ khái quát lại một số cách thức người học có thể áp dụng để giúp việc tìm kiếm hệ thống các ý tưởng cho bài văn nghị luận văn học dễ dàng hơn. Tìm ý tưởng trong quá trình đọc hiểu văn bản Để tạo lập một văn bản nghị luận văn học, yêu cầu bắt buộc là người viết phải có hiểu biết về vấn đề được đặt ra trong đề bài. Đó chính là những kiến thức về tác phẩm, về trào lưu, giai đoạn văn học mà tác phẩm đó là một thành tố. Thực tế cho thấy, những HS “không biết viết gì” trong bài văn của mình là do thiếu mảng kiến thức quan trọng này. Để có kiến thức về tác phẩm, người học cần đầu tư nghiêm túc cho việc tìm hiểu văn bản. Vì vậy, một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay chính là trang bị cho người học phương pháp đọc hiểu văn bản, để họ có thể tự chiếm lĩnh văn bản. Đây là một kỹ năng quan trọng đối với đa số người học. Những giờ học về tác phẩm trên lớp sẽ đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ trang bị cho người học kỹ năng này. Giáo viên GV có thể vận dụng nhiều phương pháp, kỹ thuật dạy học khác nhau để hỗ trợ người học chiếm lĩnh tác phẩm. Ở bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu hai kỹ thuật dạy học có thể được sử dụng trong giờ đọc hiểu văn bản cũng như hiệu quả của chúng trong việc giúp người học hiểu hơn về tác phẩm, từ đó có thêm những ý tưởng cho các bài viết nghị luận văn học. * Kỹ thuật DR-TA DR-TA Direct Reading – Thinking Activity [2] là kỹ thuật “đọc có hướng dẫn – hoạt động tư duy”, một kỹ thuật hướng dẫn người học nêu câu hỏi về văn bản, dự đoán nội dung văn bản, sau đó đọc để xác nhận hoặc bác bỏ những dự đoán của mình, qua đó điều chỉnh cách hiểu về văn bản. Kỹ thuật này được thực hiện trong từng đoạn văn bản để người học có điều kiện lần lượt thảo luận, trao đổi và điều chỉnh cách hiểu về văn bản. Các câu hỏi của giáo viên GV là các câu hỏi gợi mở và nảy sinh trên cơ sở những câu trả lời của người học. Tiến trình tương tác giữa GV và người học theo kỹ thuật DR-TA được thực hiện như sau – Bước 1 GV xác định văn bản và lựa chọn những điểm sẽ cho HS tạm dừng lại trong quá trình đọc để đặt câu hỏi và dự đoán. – Bước 2 – D = Direct Hướng dẫn GV yêu cầu người học đọc qua tựa đề, tên các chương, hình vẽ… và đặt các câu hỏi gợi mở hướng dẫn người học dự đoán về nội dung văn bản. Ví dụ “Với tựa đề như vậy, bạn cho rằng văn bản sẽ viết về cái gì?”… Bước này giúp kích thích tư duy của người học. – Bước 3 – R = Reading Đọc người học đọc đoạn đã chọn. GV gợi nhắc người học bằng những câu hỏi về những thông tin trong đoạn đã đọc và yêu cầu người học xem lại những dự đoán bản thân đã nêu trước đó và điều chỉnh lại cách hiểu về nội dung. – Bước 4 – T = Thinking suy nghĩ Khi đọc xong mỗi đoạn, GV sử dụng các câu hỏi gợi nhắc người học suy nghĩ lại về những dự đoán trước đó của mình, điều chỉnh hoặc bổ sung, làm rõ những dự đoán đó bằng các chi tiết trong văn bản. Ví dụ Hệ thống câu hỏi được xây dựng theo kỹ thuật DR-TA ĐI BỘ NGAO DU Trích Ê-min hay Về giáo dục – Ru-xô Ngữ văn 8 Hoạt động Câu hỏi gợi ý D Direct – Hướng dẫn Các câu hỏi được đặt ra trước khi người học đọc văn bản. 1. Theo bạn, với nhan đề “Đi bộ ngao du”, văn bản sẽ đề cập đến nội dung gì? 2. Bạn biết gì về tác giả Ru-xô? Điều đó giúp gì cho bạn khi tìm hiểu văn bản này? R Reading – Đọc Các câu hỏi được đặt ra khi HS đọc lần lượt từng đoạn văn bản 1. Hãy đọc đoạn 1. Ở đoạn này, tác giả đã trình bày vấn đề gì liên quan đến “đi bộ ngao du”? Những lý lẽ, dẫn chứng nào đã được trình bày? 2. Ở đoạn 2, tác giả tiếp tục trình bày vấn đề gì về “đi bộ ngao du”? Những điều tác giả trình bày có hợp lý không? 3. Tác giả mở đầu đoạn 3 bằng nhận định “Biết bao hứng thú khác nhau ta tập hợp được nhờ cách ngao du thú vị ấy…”. Vậy trong đoạn 3 tác giả sẽ trình bày nội dung gì về đi bộ ngao du? 4. Hãy sắp xếp các luận điểm của văn bản này vào một sơ đồ để thấy được cách lập luận của tác giả. T Thinking – Suy nghĩ Các câu hỏi được đặt ra khi người học đã đọc xong toàn văn bản. 1. Bạn tâm đắc điều gì về văn bản “Đi bộ ngao du”? 2. Nếu bạn là tác giả Ru-xô, bạn sẽ trình bày những vấn đề gì về chủ đề “đi bộ ngao du”? 3. Bạn hiểu thêm gì về tác giả Ru-xô sau khi đọc văn bản này? 4. Theo bạn, ý nghĩa của văn bản này là gì? * Kỹ thuật QAR QAR Q Question, A Answer, R Relationship [2], là kỹ thuật giúp người học hiểu mối quan hệ giữa câu hỏi, thông tin trong văn bản và kiến thức nền kiến thức sẵn có của người học, giúp họ phát triển mức độ phức tạp của câu hỏi và câu trả lời, qua đó hiểu sâu sắc, toàn diện hơn về văn bản. Câu hỏi đọc văn bản gồm bốn mức độ – Mức độ 1 – “Ở đây” Câu hỏi yêu cầu tìm thông tin có sẵn trong văn bản. Các câu hỏi ở mức độ này thường là “Ai là…?”, “Điều đó xảy ra khi nào, ở đâu?”, “Đó là cái gì?”… – Mức độ 2 – “Suy nghĩ và tìm kiếm” Câu hỏi yêu cầu HS phải suy nghĩ và tìm kiếm thông tin trong văn bản. Các câu hỏi ở mức độ này thường là “Hãy giải thích…”, “Hãy sosánh…”, “Điều đó có ý nghĩa gì?”, “Hãy tóm tắt…” – Mức độ 3 – “Tác giả và tôi” Câu hỏi yêu cầu HS phải có khả năng suy luận, dựa vào kiến thức nền đồng thời tìm minh chứng cho câu trả lời. Các câu hỏi ở mức độ này thường là “Dựa vào đâu mà bạn có kết luận đó?”, “Ý nghĩa của chi tiết/ hình ảnh/ sự kiện… là gì?” – Mức độ 4 – “Dựa vào chính tôi” câu hỏi ở mức độ này yêu cầu người học phải dựa vào năng lực suy luận của họ. Các câu hỏi ở mức độ này thường là “Bạn có suy nghĩ gì về…”, “Bạn đã từng biết/trải qua…?”, “Điều đó là như thế nào?” Mức độ 1, 2 là những câu hỏi sử dụng thông tin có sẵn trong văn bản, mức độ 3, 4 là những câu hỏi sử dụng kiến thức nền của người học để trả lời. Các mức độ câu hỏi này tạo thành một hệ thống chặt chẽ, phù hợp với quá trình tiếp nhận văn bản, thể hiện mối quan hệ giữa văn bản và thực tiễn. Các câu hỏi được thực hiện trước, trong và sau khi đọc văn bản, qua đó vừa kích hoạt kiến thức nền, trợ giúp người học đọc văn bản vừa giúp họ suy ngẫm về những gì mình đã đọc được từ văn bản, liên hệ với bản thân và thế giới xung quanh. Khi khảo sát một văn bản có sự kết hợp các câu hỏi ở cả bốn mức độ trên, người học có điều kiện để khai thác và hiểu về văn bản một cách rõ ràng, sâu sắc. Ví dụ Hệ thống câu hỏi được xây dựng theo kỹ thuật QAR BẾN QUÊ – Nguyễn Minh Châu Ngữ văn 9 Mức độ Câu hỏi gợi ý 1 1. Tìm những chi tiết trong tác phẩm nói lên hoàn cảnh của nhân vật Nhĩ. 2. Khi nằm trên giường bệnh, Nhĩ có những suy nghĩ gì? 2 1. Nguyễn Minh Châu đã xây dựng tình huống truyện như thế nào? Ý nghĩa của tình huống truyện đó. 2. Chi tiết nào trong tác phẩm mang lại cho bạn nhiều suy nghĩ nhất? Hãy nói về chi tiết đó. 3 Bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa câu nói của nhân vật Nhĩ “Con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo, chùng chình” ? 4 1. Bạn có biết những ai gặp hoàn cảnh tương tự nhân vật Nhĩ không? 2. Nếu bạn ở trong hoàn cảnh của nhân vật Nhĩ, bạn mong muốn điều gì? Với các phương pháp, kỹ thuật dạy học được vận dụng hợp lý vào trong các giờ đọc hiểu văn bản mà điển hình là hai kỹ thuật trên, GV có thể giúp người học tăng cường hứng thú học tập, hiểu rõ hơn về tác phẩm, qua đó dễ dàng huy động ý tưởng cho bài viết khi tạo lập văn bản nghị luận văn học về tác phẩm. Tìm ý tưởng trong mối quan hệ giữa văn bản đang khảo sát và các tác phẩm khác Các tác phẩm văn học đều có mối quan hệ với nhau, xét ở một khía cạnh nhất định. Các tác phẩm đó có thể cùng thuộc một giai đoạn, trào lưu, đề tài, do một tác giả viết ra… hoặc tuy khác nhau về tác giả, giai đoạn, trào lưu nhưng lại có một khía cạnh nào đó tương đồng hoặc tương phản về nội dung, tư tưởng, nghệ thuật… Điều đó có nghĩa là luôn có một tiêu chí nào đó để chúng ta có thể so sánh các tác phẩm với nhau. Khi viết một bài nghị luận văn học, việc liên hệ, so sánh, đối chiếu tác phẩm văn học đang khảo sát với các tác phẩm khác sẽ giúp bài viết có được nhiều ý tưởng phong phú, việc khai thác vấn đề đặt ra trong đề bài sâu sắc hơn, thể hiện hiểu biết sâu rộng và khả năng lập luận của người viết. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là đa số người học không quan tâm đến việc liên hệ với các tác phẩm khác để tìm kiếm ý tưởng cho bài viết. Để khai thác tốt kênh thông tin này, trong quá trình hướng dẫn người học tìm ý tưởng cho bài văn nghị luận văn học, hoặc ngay chính trong quá trình tìm hiểu văn bản, GV có thể sử dụng hệ thống các câu hỏi gợi ý để định hướng cho người học cách liên hệ, khai thác mối quan hệ giữa các tác phẩm để bổ sung nguồn ý tưởng cho bài viết. Dưới đây là một số ví dụ cho việc sử dụng hệ thống câu hỏi liên hệ để tìm ý tưởng cho bài viết từ mối liên hệ giữa các văn bản Ví dụ 1 SÓNG – Xuân Quỳnh Ngữ văn 12 Vấn đề Câu hỏi gợi ý Đề tài tình yêu – Từ bài thơ Sóng, hãy tìm thêm những tác phẩm khác viết về đề tài tình yêu mà bạn đã được đọc. – Ngoài bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh còn có những bài thơ nào về đề tài tình yêu không?… Chủ đề tác phẩm Viết về tình yêu của người phụ nữ, các tác phẩm khác thể hiện nội dung này như thế nào?… Nội dung “Những cung bậc phức tạp trong tình yêu của người phụ nữ” Trong bài thơ Thuyền và biển, Xuân Quỳnh đã có những lý giải về sự phức tạp trong tình yêu của người phụ nữ. Câu thơ nào thể hiện điều đó? Nội dung “Khát vọng tình yêu của người phụ nữ” Tự hát là một bài thơ thể hiện rất rõ nỗi lòng người phụ nữ đang yêu. Khát vọng tình yêu trong bài thơ Sóng đã được Xuân Quỳnh thể hiện như thế nào trong bài thơ Tự hát? Ví dụ 2 ĐỀ TÀI NGƯỜI NÔNG DÂN Nội dung Câu hỏi gợi ý Tác phẩm Văn học Việt Nam/ Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 có những tác phẩm nào viết về đề tài người nông dân?…. Tác giả và quan điểm sáng tác 1. Những nhà văn nào có nhiều sáng tác về người nông dân Việt Nam? 2. Thái độ của các nhà văn đối với người nông dân có gì đặc biệt?…. So sánh các tác phẩm có đề tài người nông dân 1. Viết về đề tài người nông dân, nội dung và cách viết của các tác giả có gì giống/khác nhau? 2. Cách khắc họa tính cách, tâm lý nhân vật trong các tác phẩm có gì khác nhau?…. Tìm ý tưởng cho văn bản từ thực tiễn Văn chương luôn bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, phản ánh lại hiện thực khách quan bằng ngòi bút sáng tạo và cảm quan của từng tác giả. Thực tiễn chính là nguồn tư liệu phong phú và quan trọng cho sáng tác. Chính vì vậy, khi tìm hiểu, bình giá một tác phẩm văn học, người đọc cần phải chú ý khai thác thực tiễn cuộc sống có liên quan đến những điều được phản ánh trong tác phẩm để có được những hiểu biết sâu sắc hơn về tác phẩm đó, về mối quan hệ của nó đối với cuộc sống. Để tạo lập một văn bản nghị luận văn học hay, người viết cũng không thể bỏ qua nguồn tư liệu quan trọng này, góp phần làm cho hệ thống ý tưởng trong bài viết thêm phong phú, sâu rộng, qua đó lý giải, đánh giá sâu sắc và thuyết phục hơn về những vấn đề được đặt ra. Ý tưởng cho bài nghị luận văn học từ thực tiễn đời sống có thể bao gồm những những mẩu chuyện, nhân vật, sự kiện, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống liên quan đến vấn đề được đặt ra trong đề bài. Ý tưởng đó có thể được tìm kiếm thông qua nhiều kênh thông tin qua quan sát từ thực tế đời sống hằng ngày, qua đọc sách, báo, internet… Để có được những ý tưởng hay, sâu sắc, ngoài việc tùy thuộc vào vốn sống, trải nghiệm và sự tinh tế, nhạy cảm riêng của từng HS, GV có thể sử dụng nhiều biện pháp cụ thể để hỗ trợ người học. Đó có thể là hệ thống các câu hỏi có tính chất gợi mở, ví dụ – Nhân vật/ hình ảnh/ chi tiết/ tình huống này gợi cho bạn nghĩ đến ai/ điều gì bạn đã gặp/ nghe/ chứng kiến trong thực tế? – Vấn đề được đặt ra trong tác phẩm có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống hiện nay? – Trách nhiệm của bản thân góp phần giải quyết những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm? Các câu hỏi như vậy cũng có thể được thiết kế lồng ghép trong các dạng bài tập khác nhau phiếu/ sơ đồ/ biểu bảng… trong quá trình lên lớp ở cả ba phân môn Giảng văn, Tiếng Việt, Làm văn, qua đó giúp người học hình thành kỹ năng tìm kiếm, phát triển các ýtưởng liên quan đến thực tiễn cho bài viết của mình. 3. Kết luận Tìm kiếm, phát triển các ý tưởng trong bài văn nghị luận văn học là một khâu quan trọng trong tiến trình tạo lập kiểu văn bản này, góp phần tạo nên một văn bản có nội dung trọn vẹn, phong phú và sâu sắc. Để có được một hệ thống ý tưởng tốt, người viết cần có hiểu biết đầy đủ, toàn diện về tác phẩm đang khảo sát, đồng thời khai thác tốt các kênh thông tin như các văn bản, vấn đề có liên quan với tác phẩm đó từ các tác phẩm khác và từ trong thực tiễn, từ những trải nghiệm sống của bản thân… Với những định hướng về cách thức tìm ý tưởng cho văn bản nghị luận văn học đã đề cập trong bài viết này, người học sẽ có những định hướng nhất định về nguồn ý tưởng cũng như cách thức tìm kiếm các ý tưởng đó để tự áp dụng vào quá trình tạo lập văn bản. Trong quá trình người học rèn luyện để hình thành kỹ năng này, GV có thể hỗ trợ tích cực cho họ thông qua việc hướng dẫn bằng hệ thống các câu hỏi, bài tập có tác dụng gợi mở cho người học con đường và cách thức tìm kiếm các ý tưởng thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau. Đối với những người học còn mơ hồ về vấn đề này, những gợi mở đó thật sự có vai trò rất quan trọng. Nhìn chung, những đề xuất được nêu ra trong bài viết cũng chỉ mới dừng lại ở những nghiên cứu ban đầu. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý đồng nghiệp để những ý tưởng của mình ngày càng hoàn thiện hơn, vận dụng có hiệu quả nhất vào việc hỗ trợ người học rèn kỹ năng tạo lập văn bản nghị luận văn học nói riêng và tạo lập văn bản trong nhà trường nói chung. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Thị Hồng Nam – Trần Nguyên Hương Thảo 2017, “Dạy tạo lập văn bản dựa trên tiến trình – Những bài học kinh nghiệm cho dạy tạo lập văn bản ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, tập 14, số 4b 2017, tr. 116-126. 2. PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Nam – TS. Dương Thị Hồng Hiếu 2016, Giáo trình Phương pháp dạy đọc văn bản, Nxb Đại học Cần Thơ. Nguồn Tạp chí Khoa học – Đại học Đồng Nai, số 14 – 2019 Thánh Địa Việt Nam Học
tìm ý cho bài văn nghị luận