thời đại nguyễn du
Xu hướng mặc chiếc váy dài vào mùa thu luôn là nỗi khao khát đến ám ảnh trong mỗi người phụ nữ. Váy dài có nét cổ điển tuyệt vời và luôn hợp thời trang. Mùa thu 2022, các ngôi sao Kendall Jenner, Elsa Hosk đã cho chúng ta thấy cách mặc váy dài một cách tinh tế, tối giản và hiệu quả từ áo sơ mi, áo ba lỗ
Thời sự - Thời báo Tài chính Việt Nam Online. Thứ bảy 15/10/2022 12:09 | Hotline: 0965 hiện đại hóa chỉ đạo, điều hành phục vụ người dân, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội. Email: thoibaotaichinh@mof.gov.vn;
Chuyên trang việc làm, tuyển dụng - Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM TUYỂN DỤNG VIỆC LÀM Nguyễn Anh Hùng Đại học Công nghệ Điện 13-10-2022 Siêng năng Hà Thị Chinh Đại học May - Thời trang 13-10-2022 Khá Võ
TTO - Nhiều tuyến đường cửa ngõ của Hà Nội bắt đầu có dấu hiệu kẹt cứng xe cộ do người dân tranh thủ về quê nghỉ lễ Quốc khánh 2-9 với gia đình. Sáng đầu tuần, nhiều tuyến đường Hà Nội lại ùn ứ. Người dân đội mưa trở lại Hà Nội mùng 6 Tết, cửa ngõ
Trailer phim "Đại thi hào Nguyễn Du". Video: Việt Media Từ nhỏ, ông là cậu bé có trí tuệ, sớm hiểu sự đời. Sinh ra trong gia đình quý tộc, là con thứ của Tể tướng Nguyễn Nghiễm, ông có tấm lòng nhân ái, yêu thương chúng sinh, đồng cảm với người nông dân, cậu bé ăn mày. Đặc biệt, tài năng thơ của ông sớm bộc lộ, được cha đặt nhiều kỳ vọng.
Reicher Mann Sucht Frau Zum Heiraten. Bọ Cạp Nguyễn Du 1766 - 1820 là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội xã hội phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã “một phen đổi sơn hà”. Phong trào Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập. Những thay đổi kinh thiên động địa ấy đã tác động mạnh tới tình cảm, nhận thức của Nguyễn Du để ông hướng ngòi bút vào hiện thực "Trải qua một cuộc bể dâu - Những điều trông thấy mà đau đớn lòng".- Gia đình Nguyễn Du là một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học, cha đỗ tiến sĩ, từng làm tể tướng, anh là Nguyễn Nghiễm từng làm quan to và say mê nghệ thuật. Nhưng cuộc sống êm đềm trướng rủ màn che” với Nguyễn Du không kéo dài được bao lâu. Nhà thơ mồ côi cha năm 9 tuổi và mồ côi mẹ năm 12 tuổi. Hoàn cảnh gia đình cũng có tác động lớn tới cuộc đời Nguyễn Nguyễn Du là người có hiểu biết sâu rộng, có vốn sống phong phú. Trong những biến động dữ dội của lịch sử, nhà thơ đã nhiều năm lưu lạc, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, những con người, những số phận khác nhau. Khi ra làm quan với nhà Nguyễn, ông đã từng đi sứ Trung Quốc, qua nhiều vùng đất Trung Hoa rộng lớn với nền văn hoá rực rỡ. Đi nhiều, tiếp xúc nhiều, từng trải trong cuộc sống... tất cả những điều đó đã có ảnh hưởng lớn đến sáng tác của nhà Nguyễn Du là con người có trái tim giàu yêu thương. Chính nhà thơ đã từng viết trong Truyện Kiều “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tà. Mộng Liên Đường chủ nhân trong lời tựa Truyện Kiều cũng đề cao tấm lòng của Nguyễn Du đối với con người, với cuộc đời “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi đau đớn đến đứt ruột. Tố Như dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hết, đậm tình đã thiết. Nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy”. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du. Ông là một thiên tài văn học ở cả sáng tác chủ Hán và chữ Nôm, ở giá trị kiệt tác của Truyện Kiều. Về chữ Hán, Nguyễn Du có ba tập thơ Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tại ngâm, Bắc hành tạp lục với tổng số 243 bài. Về chữ Nôm, ngoài Truyện Kiều Đoạn trường tân thanh, còn có Văn chiêu hồn,...• Năm 1802, ông được với ra làm quan nhà Nguyễn, chức tri phủ Thường Tín, Cai bạ Quảng Bình. 1813 làm Cần Chánh điện đại học sĩ, đi sứ Trung Quốc, giữ chức Tham trị bộ Lễ. Trả lời hay 1 Trả lời 24/09/21
Bạn đang quan tâm đến Tóm Tắt Tiểu Sử Nguyễn Du phải không? Nào hãy cùng đón xem bài viết này ngay sau đây nhé, vì nó vô cùng thú vị và hay đấy! Đại thi hào Nguyễn Du – Danh nhân văn hóa thế giới, là một trong những tác giả tiêu biểu nhất trên văn đàn Việt Nam. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ, Nguyễn Du đã trở thành lịch sử và một huyền thoại, đặc biệt với tác phẩm Truyện Kiều đã đưa văn học Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Sau đây là chi tiết vềcuộc đời và sự nghiệp văn chương của đại thi hào Nguyễn DuCó thể bạn quan tâm Hội chứng trái tim tan vỡ có là thật? Hướng Dẫn Sử Dụng Excel 2010 Qua Hình Ảnh Trong Excel 2007, 2010 Hướng Dẫn Adobe After Effect, 50 Bài Hướng Dẫn After Effect Xuất Sắc ĐƯỜNG CHÍ TUYẾN LÀ GÌ Kiên nhẫn là gì? Đặc điểm và cách rèn luyện tính kiên nhẫn Tóm lược tiểu sử cuộc đời Nguyễn Du Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766? -1820 tự là Tố Như 素如, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ, là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là “Đại thi hào dân tộc” và được UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hóa thế giới“. Ông có một cuộc đời vô cùng gian truân và cực đang xem Tiểu sử của nguyễn du Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – XIX. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật là chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng và phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn. Yếu tố thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc tới ngòi bút của Nguyễn Du khi viết về hiện thực đời sống. cuộc đời từng trải, phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du vốn sống phong phú và niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa đang xem Tóm tắt tiểu sử nguyễn du Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài không quá mười năm. Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản khi ấy ông Khản đã hơn Nguyễn Du 31 tuổi. Năm 1780 , khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra “Vụ mật án Canh Tý” Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng là Trịnh Tông. Ông Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam. Đến khi Trịnh Tông lên ngôi, ông Khản được cử lên làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng. Quân lính khác phe sử gọi là “kiêu binh” không phục, kéo đến phá nhà, khiến ông Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tây sống với em là Nguyễn Điều rồi về quê ở Hà Tĩnh . Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngã. Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường tú tài, sau đó không rõ vì lẽ gì không đi thi nữa. Trước đây, một võ quan họ Hà không rõ tên ở Thái Nguyên , không có con nên đã nhận ông làm con nuôi. Vì thế, khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên. Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên . Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau Năm 1803 đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc. Xem Thêm Đá Phò Là Gì? Tìm Hiểu Về Hành Động NàyNăm 1805 thăng hàm Đông Các điện học sĩ. Năm 1807 làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương. Năm 1809 làm Cai bạ dinh Quảng Bình. Sau khi đi sứ về vào năm 1814 , ông được thăng Hữu tham tri Bộ thêm Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng 1791-1840 lên ngôi, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột ngột trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc bấy giờ ở kinh đô Huế vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức 18 tháng 9 năm 1820. Lúc đầu 1820, Nguyễn Du được táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền Hà Tĩnh. Sự nghiệp văn học của đại thi hào Nguyễn Du Xét về nội dung, qua các sáng tác của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao “tình”. Điều quan trọng hàng đầu, là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh xem Văn tế thập loại chúng sinh, Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả Cái nhìn nhân đạo này khiến ông được đánh giá là “tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19”. Riêng với Truyện Kiều, kiệt tác này còn “thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của tình yêu lứa đôi.” Tác phẩm bằng chữ Hán Những tác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959 mới được ba nhà nho là Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch, chú thích và giới thiệu tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du NXB Văn hóa, 1959 chỉ gồm có 102 bài. Đến năm 1965 NXB Văn học đã ra Thơ chữ Hán Nguyễn Du tập mới do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp, gồm 249 bài như sau Xem Thêm TÍCH TRONG TOÁN HỌC LÀ GÌThanh Hiên thi tập còn gọi là Thanh Hiền tiền hậu tập Tập thơ của Thanh Hiên gồm 78 bài thơ trong giai đoạn 1786-1804, gồm 10 năm gió bụi, ông sống ở Thái Bình quê vợ, 6 năm trở lại nhà dưới chân núi Hồng, và 2 năm làm chi huyện ở huyện Bắc Hà. Tập thơ là các bài viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn. Nam trung tạp ngâm Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam gồm 40 bài, giai đoạn 1805-1812, ông được thăng hàm Đông các đại học sĩ, làm quan ở Kinh Đô 5 năm và làm cai bạ ở Quảng Bình 3 năm Bắc hành tạp lục Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc gồm 131 bài thơ, giai đoạn 1813-1814, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc. Tác phẩm bằng chữ Nôm Những tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Du gồm có Đoạn trường tân thanh còn có tên gọi khác là Kim Vân Kiều truyện,Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột. Tên phổ biến là Truyện Kiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thúy Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc. Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học bộ mới ghi “Có thuyết cho rằng Nguyễn Du viết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc 1814-1820, có thuyết cho nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình 1804-1809. Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn”. Văn chiêu hồn tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa Văn tế mười loại chúng sinh, còn có tên gọi khác là Văn chiêu hồn, Văn tế chiêu hồn. Vài nét về tác phẩm truyện Kiều – tác phẩm tiêu biểu nhất của đại thi hào Nguyễn Du Đoạn trường tân thanh, thường được biết đến với cái tên đơn giản là Truyện Kiều là một truyện thơ của đại thi hào Nguyễn Du. Đây được xem là truyện thơ nổi tiếng nhất và xét vào hàng kinh điển trong văn học Việt Nam, tác phẩm được viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát, gồm 3254 câu. Câu chuyện dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một thi sĩ thời nhà Minh, Trung Quốc. Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình. Để cứu cha và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng anh ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu thêm Các Món Ngon Từ Cá Basa Kho Ngon Đậm Vị, Cách Chế Biến Cá Basa Đúng Cách Nguyễn Du xứng đáng là đại thi hào, danh nhân văn hóa thế giới, là vì sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam. Nguồn Danh mục Kiến thức Vậy là đến đây bài viết về Tóm Tắt Tiểu Sử Nguyễn Du đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!
Cha là ông là Nguyễn Nghiễm, sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ Tể tướng, tức Thượng thư bộ hộ triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần 1740 - 1778, con gái một người làm chức Câu kế, quê làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, bà có tài hát xướng. Năm Đinh Hợi 1767, khi Nguyễn Du mới một tuổi, Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, Hàm tòng nhất phẩm, tức Xuân Quận công nên Nguyễn Du thời đó sống trong giầu sang phú thi hào Nguyễn Giáp Ngọ 1774, cha Nguyễn Du được phong chức Tể tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Từ thời gian này Nguyễn Du chịu nhiều mất mát Năm 1775 anh trai cùng mẹ là Nguyễn Trụ sinh 1757 qua đời, Năm 1776 Bính Thân cha Nguyễn Du qua đời, Năm 1778 Mậu Tuất bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du qua đời. Cũng trong năm này, anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều sinh năm 1745 được bổ làm Trấn thủ Hưng Canh Tý 1780, Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ Nam Định nuôi ăn học. Năm Nhâm Dần 1782 Trịnh Sâm mất, Kiêu binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi chúa. Hai anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại tức Toản Quận công, còn Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Quý Mão 1783 Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường Tú tài. Ông lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục và ông được tập ấm chức Chánh thủ hiệu quân hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên. Cũng trong năm này anh cùng mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Đề sinh 1761 đỗ đầu kỳ thi Hương ở điện Phụng Thiên cử Nhân và Nguyễn Khản đầu năm thăng chức Thiếu Bảo, cuối năm thăng chức Tham tụng. Tháng 2 năm 1784, kiêu binh nổi dậy đưa hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm thái tử. Tư dinh của Nguyễn Khản ở phường Bích Câu, Thăng Long bị phá, Nguyễn Khản phải trốn lên ở với em là Nguyễn Điều đang là trấn thủ Sơn Tây. Đến năm 1786 thì Nguyễn Khản bị mắc bệnh rồi chết ở Thăng Long. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Đoàn Nguyễn Tuấn hợp tác với nhà Tây Sơn, giữ chức Thị lang bộ Lại. Lúc này Nguyễn Du về ở quê vợ Quỳnh Côi, Thái Bình.Tháng mười, năm Tân Hợi 1791, anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh do chống Tây Sơn nên bị bắt và bị giết, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền Hà Tĩnh bị Tây Sơn phá hủy. Năm 1793 Quý Sửu, Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền và đến cuối năm ông vào kinh đô Phú Xuân thăm anh là Nguyễn Đề đang làm thái tử ở viện cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn. Năm 1794 Giáp Dần, Nguyễn Đề được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ. Đến năm 1795 Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua Càn Long nhà Thanh, đến năm 1796 trở về được thăng chức Tả Đồng Nghị Trung Thư Đông năm Bính Thìn 1796, Nguyễn Du trốn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An. Sau khi được tha ông về sống ở Tiên Điền. Trong thời gian bị giam ông có làm thơ My trung mạn hứng Cảm hứng trong tù. Mùa thu năm Nhâm Tuất 1802, Vua Gia Long diệt nhà Tây Sơn. Nguyễn Du ra làm quan Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Mấy tháng sau thăng Tri Phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng nay thuộc Hà Nội . Năm 1803, Nguyễn Du được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long. Năm 1805 Ất Sửu ông được thăng Đông Các Đại Học Sĩ hàm Ngũ phẩm, tức Du Đức hầu và vào nhận chức ở kinh đô Phú Xuân. Năm 1807 được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải Dương. Mùa thu năm 1808 ông xin về quê nghỉ. Năm 1809 ông được bổ chức Cai bạ hàm Tứ phẩm ở Quảng Bình. Năm Quý Dậu 1813 ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham chi bộ Lễ hàm Tam phẩm. Năm Bính Tý 1816, anh rể Nguyễn Du là Vũ Trinh vì liên quan đến vụ án cha con Tổng trấn Nguyễn Văn Thành nên bị đày vào Quảng 1820 Canh Thìn Gia Long qua đời Minh Mạng nối ngôi. Lúc này Nguyễn Du được cử đi làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 năm Canh Thìn 18-9-1820 thọ 54 tuổi. Mộ ông nguyên táng tại làng An Ninh, huyện Hương Trà gần sau chùa Thiện Mụ. Năm Giáp Thân 1824, người ta cải táng ông và đưa về quê nhà Tiên Điền, Hà 1965 ông được Hội đồng hòa bình thế giới của UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới và quyết định kỉ niệm trọng thể nhân dịp 200 năm năm sinh của Du đã sống một cuộc đời bi kịch. Xuất thân trong một gia đình quý tộc giàu sang, thế mà cơn lốc lịch sử đã hất đổ hết lầu son gác tía, đẩy ông vào cuộc đời sống lay lắt, lưu lạc, tha hương. Nhưng bi kịch lớn nhất là từng khao khát một sự nghiệp vẫy vùng cho phỉ chí, mà rút cuộc phải chấp nhận cuộc đời triền miên buồn chán, không có một hoạt động say sưa và nhất quán vì lý tưởng nào cả. Nguyễn Du đã sống như một người dân thường giữa thế gian và nhờ thế ông thông cảm sâu xa với mọi kiếp người bị đầy đọa. Nguyễn Du nhìn đời với con mắt của một người đứng giữa dông tố cuộc đời và điều đó khiến tác phẩm của ông chứa một chiều sâu chưa từng có trong văn học Việt Nam trung Du đã để lại một di sản văn chương đồ sộ với những tác phẩm kiệt xuất, ở thể loại nào ông cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ chữ Hán Nguyễn Du có 3 tập thơ Thanh Hiên thi tập gồm 78 bài làm lúc ông đang sống lẩn tránh ở quê vợ và quê nhà Nghi Xuân 1786 – 1804. Nam trung tạp ngâm gồm 40 bài là tập thơ sáng tác lúc ra làm quan với triều Nguyễn 1805 – 1813. Bắc hành tạp lục gồm 132 bài làm lúc phụng mệnh vua dẫn đầu đoàn đi sứ Trung Quốc 1813 – 1814, tổng cộng 250 bài. Thơ chữ Hán có những kiệt tác như Đọc Tiểu Thanh kí, Bài ca những điều trông thấy Sở kiến hành, Bài ca người gảy đàn đất Long Thành Long Thành cầm giả ca, Người hát rong ở Thái Bình Thái Bình mại ca giả, Chống lại bài “ Chiêu hồn” Phản “chiêu hồn”…Thơ chữ Nôm Nguyễn Du có hai kiệt tác Truyện Kiều Đoạn trường tân thanh gồm 3254 câu thơ lục bát và Văn tế thập loại chúng sinh gồm 184 câu viết theo thể song thất lục bát. Ngoài ra, ông còn có một số tác phẩm đậm chất dân gian như Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài vè Thác lời trai phường Du là nhà thơ nhân đạo lỗi lạc với tấm lòng sâu sắc, bao dung, đồng thời ông đã dùng ngòi bút phê phán hiện thực mạnh mẽ, sắc bén. Những sáng tác của Nguyễn Du là sự kết tinh những thành tựu chữ Hán và chữ Nôm của dân tộc, tổng hợp tinh hoa của nhiều thể loại văn học để sáng tác Truyện Kiều. Nguyễn Du đã có công lớn trong việc đưa ngôn ngữ văn học Tiếng Việt lên trình độ điêu luyện, cổ điển. Từ đó ông đáng được suy tôn danh hiệu Đại thi hào dân tộc và Danh nhân văn hóa thế
1. Giải thích ý kiến2. Chứng minh ý kiếna. Nguyễn Du là một nhà nhân đạo lớnb. Nguyễn Du không chỉ là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn mà còn là một nhà nghệ sĩ khảoQua Truyện Kiều, hãy chứng minh Nguyễn Du là một nghệ sĩ lớn mang trái tim của thời đại Chứng minh Nguyễn Du – “Một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn” I. Mở bài – Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và tấm lòng nhân đạo của nhà thơ “một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”. II. Thân bài 1. Giải thích ý kiến – Trái tim lớn là tâm hồn, tấm lòng cao đẹp, chứa chan tình yêu thương. – Nghệ sĩ lớn trí tuệ lớn, tài năng thơ ca trác việt. ⇒ Ở Nguyễn Du Tâm cũng lớn mà tài cũng lớn. Đọc Nguyễn Du, nhất là Truyện Kiều, người ta thấy “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” và cũng thấy rằng tất cả lời ngọc ý vàng ấy đều được viết ra từ một tấm lòng đau đớn cho thân phận con người, cho thời thế và cho nhân thế. Ngọc của nghệ thuật Nguyễn Du đúng là kết tinh từ vết thương lòng của một trái tim từng quặn đau trong biển đời. 2. Chứng minh ý kiến a. Nguyễn Du là một nhà nhân đạo lớn Trái tim lớn của Nguyễn Du, trái tim mang trong nó một nỗi đau vĩ đại, một tình yêu thương sâu rộng. Cuộc đời Nguyễn Du có nhiều sóng gió, 10 năm lưu lạc trên đất Bắc là khoảng thời gian điêu đứng, long đong. Nguyễn Du đã nếm trải đủ cay đắng, ngọt bùi trên đời. Các sáng tác của ông là bức tranh sinh đọng về xã hội, những cảnh đời trước mắt. Chính vì vậy, các tác phẩm của ông đều toát lên tinh thần nhân đạo sâu sắc. Trái tim của thi hào giành tình thương cho tất cả những kiếp người đau khổ. Ông thương người mẹ lang thang cầu bất cầu bơ lê mình đi ăn xin cho ba đứa con Sở kiến hành. Ông thương cả những cô cầm vừa quen vừa lạ, hai mươi năm trước tài sắc nổi tiếng đất Long Thành, vương hầu công tử xúm xít quanh mình. Thế mà nay đã thành một bà già tàn tạ “tóc hoa râm, mặt võ, mình gầy” bị bỏ quên ngay bên tiệc rượu để rồi “Lệ thương tâm ướt vạt áo là” Long thành cầm giả ca. Ông đau đớn nghẹn ngào cho Khuất Nguyên – một nhà thơ lớn của Trung Quốc, sống cách ông hơn 2000 năm Phản chiêu hồn. Nhà thơ thương xót cả những người lính Trung Quốc bị đẩy vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, phải qua lại nơi cửa ải nguy hiểm Quỷ Môn quan. Trái tim của Nguyễn Du thật dễ xúc động, dễ tổn thương, sự đồng cảm của nó là không biên giới, không thời gian. Mọi nỗi buồn đau, thống khổ của kiếp người vang động đến đều có thể làm cho trái tim ấy rỉ máu. Ngòi bút của Nguyễn Du chấm vào thứ máu ấy mà viết lên những trang thơ. Trái tim mẫn cảm của Nguyễn Du giành phần thống thiết nhất cho thân phận bi kịch của những con người tài hoa, nhất là những người phụ nữ tài sắc. Ông xót thương cho Tiểu Thanh Độc Tiểu Thanh kí, cho nàng KIều Truyện Kiều. Niềm cảm thông, thương xót của Nguyễn Du dành cho Thúy Kiều thật sâu sắc. Mười lăm năm lưu lạc đời Kiều, Nguyễn Du lận đận theo nàng trên từng trang sách. Ông bồi hồi trước mối tình đầu của nàng, ông đau đớn khi nàng ra đi dấn thân vào quãng đường đời ô nhục, ông nhìn thấu cuộc đời đau khổ, số phận bèo bọt của người con gái tài sắc ấy để rồi thốt lên đầy thương cảm “Thương thay cũng một kiếp người Hại thay mang lấy sắc tài làm chi” Thương xót và căm phẫn, trái tim Nguyễn Du đã phẫn nộ trước những thế lực chà đạp con người. Ngòi bút Nguyễn Du đã tố cáo bọn quan lại cường quyền độc ác, bỉ ổi, đê tiện Truyện Kiều, Phản chiêu hồn, Sở kiến hành. Ông căm ghét lên án thế lực đồng tiền hắc ám Truyện Kiều. Nguyễn Du là người đầu tiên trong lịch sử văn học Việt nam đã phác hoạ ra một bức tranh xã hội toàn diện, lấy những đau khổ của những con người đương thời để nêu lên thành những vấn đề chung, thành vấn đề của con người trong xã hội có áp bức, bóc lột. Đó là một tinh thần nhân đạo bao quát của Nguyễn Du. Cái thế giới làm cho ông cảm thương, xót xa là cái thế giới của tất cả những người bị giày xéo, đọa đày về thể xác cũng như tinh thần. Lời tố cáo của Nguyễn Du là lời tố cáo đánh vào những kẻ, những chế độ chà đạp lên con người. Tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du đã vạch rõ ranh giới giữa yêu và ghét. Trái tim lớn chứa chan tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện ở tiếng nói đề cao, trân trọng con người trong sáng tác của nhà thơ. Trong Truyện Kiều, ông hết lòng ngợi ca vẻ đẹp của con người qua việc xây dựng các nhân vật. Nhân vật Thuý Kiều được ông hết lời ngợi ca là một trang tuyệt thế giai nhân, thế gian hiếm gặp. Nhân vật Kim Trọng được khắc họa là một nho sinh hào hoa, phong nhã. Nhân vật Từ Hải được khắc họa là bậc anh hùng phi phàm. Nguyễn Du trân trọng, đề cao ước mơ, khát vọng chân chính của con người. Khát vọng về tình yêu tự do được thi hào thể hiện qua việc xây dựng mối tình Kim – Kiều; ước mơ công lí, tự do được gửi gắm qua hình tượng Từ Hải Truyện Kiều. b. Nguyễn Du không chỉ là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn mà còn là một nhà nghệ sĩ lớn. Ông là người đầu tiên trong lịch sử văn học trung đại đã đưa nghệ thuật văn học, đặc biệt là nghệ thuật thơ ca Việt Nam lên một đỉnh cao vời vợi chưa từng thấy. Truyện Kiều là một kiệt tác văn học, chứng tỏ Nguyễn Du là một ngòi bút thiên tài, là bậc thầy của nghệ thuật thơ ca ở nhiều phương diện. Nghệ thuật miêu tả, khắc hoạ tính cách nhân vật đạt đến bậc xuất thần, hiến có. Ông chủ yếu khắc hoạ nhân vật chỉ bằng một vài nét phác thảo đơn sơ nhưng rất đậm đà, sắc sảo, nổi bật lên như được chạm khắc, đẽo gọt tỉ mẫn. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên như thực cảnh, miêu tả tâm trạng đặc sắc càng thêm tinh tế. Nguyễn Du xứng đáng được tôn vinh là một bậc thầy về ngôn ngữ, người đã nâng tiếng Việt lên một tầm cao rực rỡ. – Ngoài ra thơ chữ Hán, văn chiêu hồn của Nguyễn Du đạt được nhiều thành tựu đắc sắc về nghệ thuật. III. Kết luận. Với một trái tim dạt dào tình người, tình đời, một ngòi bút tài hoa hiếm thấy, Nguyễn Du và tác phẩm của ông mãi mãi được ca tụng, lưu truyền. Nguyễn Du xứng đáng được coi là một thiên tài văn học, một danh nhân văn hoá tầm cỡ nhân loại. Như Puskin, Lỗ Tấn…, tên tuổi và sự nghiệp của ông làm rạng danh cho nền văn hoá dân tộc và thế giới. Tham khảo Qua Truyện Kiều, hãy chứng minh Nguyễn Du là một nghệ sĩ lớn mang trái tim của thời đại Nguyễn Du là nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn, danh nhân văn hóa thế giới. Tác phẩm Truyện Kiều của ông được xem là một kiệt tác văn học, một trong những thành tựu tiêu biểu nhất trong nền văn học trung đại Việt Nam. Qua các tác phẩm của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm. Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc như ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành,… nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nôm của ông, mà đỉnh cao là Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát có khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn trong thể loại truyện thơ. Chính trên cơ sở này, mà trong thơ Nguyễn Du luôn luôn vang lên âm thanh, bừng lên màu sắc của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của bức tranh hiện thực đa dạng. Và giữa những âm thanh, màu sắc, đường nét vô cùng phong phú đó, Nguyễn Du hiện ra vừa dạt dào yêu thương, vừa bừng bừng căm giận. Đây là chỗ đặc sắc và cũng là chỗ tích cực nhất trong nghệ thuật của Nguyễn Du. Từ thơ chữ Hán đến Truyện Kiều, nó tạo nên cái sức sống kỳ lạ ở hầu hết tác phẩm của ông. Trong quá trình vận động tư tưởng và tìm cho mình một lối đi, có lúc Nguyễn Du tìm đến đạo Phật, đạo Lão hoặc mơ ước một cuộc đời ẩn dật ở trong núi sâu, tuyệt nhiên không biết đến những gì xảy ra bên ngoài núi . Lại có lúc ông mơ chuyện hành lạc theo kiểu Lý Bạch ngày xưa. Nhưng rồi chẳng có chuyện gì thành. Nguyễn Du không hề có một cuộc đời hoạt động say sưa vì một lý tưởng; Nguyễn Du cũng không hề tu Phật, tu tiền; chuyện ẩn dật, chuyện hành lạc với Nguyễn Du cũng đều là chuyện hão. Rốt cuộc Nguyễn Du đã triền miên suốt đời trong một không khí buồn chán nặng nề. Tấn bỉ kịch của Nguyễn Du chính là tấn bi kịch của những cuộc đời không tìm ra phương hướng. Chúng ta không trách Nguyễn Du vì ngay giờ đây, mặc dầu lịch sử nhân loại đã chan hòa ánh sáng, trên thế giới vẫn còn không ít những đầu óc thông thái đang quằn quại trong, những cảnh bế tắc không khác gì cảnh bế tắc của Nguyễn Du. Nhưng nếu trong thơ văn của Nguyễn Du chỉ có buồn chán, chỉ cỏ bế tắc thì thiết tưởng cũng chẳng nên khuấy lên làm gì. Nhất là giữa lúc cuộc sống đang tưng bừng mơ hội và những công việc to lớn đang chờ đợi chúng, ta. Không, đó không phải là phần đáng quý, chẳng những thế, đó là phần nguy hiểm trong thơ văn Nguyễn Du. Phần đáng quý vô cùng ấy là tấm lòng của Nguyễn Du đối với những kiếp người bị đày đọa, Nguyễn Du không ngự trên một cái Bến giác nào để nhìn xuống mỉm cười. Nguyễn Du cùng với chúng sinh cùng chìm trong bể khổ. Nhìn đời, Nguyễn Du băn khoăn, đau xót, day dứt không nguôi. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du còn ghi lại bao nhiêu cảnh thương tâm. Đây cảnh một ông già mù đi hát rong ở châu Thái Bình, thuộc tỉnh Quảng Tây. Hôm ấy Nguyễn Du đang đi thuyền, có thuyền bên cạnh gọi ông già xuống hát. Ông già vừa đàn vừa hát. Nguyễn Du không hiểu lời nhưng nghe hát cũng thấy hay. Mọi người chung quanh đều im lặng trong khi gió trên sông thổi vi vu và trăng trên sông soi vằng vặc. Nguyễn Du theo dõi từng cử chỉ của ông già Khẩu phún bạch mạt thủ toan súc Khước tọa liễm huyền cáo chung khúc Miệng xùi bọt mép, tay mỏi rã rời; Ông già ngồi xuống, xếp đàn, ngỏ lời đàn hát đã xong. Đàn hát mệt nhọc như thế mà rốt lại chỉ được có năm sáu đồng tiền và tuy chỉ được có năm sáu đồng tiền vẫn không ngớt lời cảm tạ Tiều nhi dẫn đắc hạ thuyền lai Do thả hồi cố đảo đa phúc Đứa bế đã dẫn ông ra khỏi thuyền Ông còn quay lại ngỏ lời chúc tụng Hình dáng ấy của ông già, nhà thơ sẽ không bao giờ quên được. Và hàng trăm năm sau, qua lời thơ, hình dáng ấy vẫn còn hiện lên ảo não trước mắt ta. Cũng trên đường đi sứ, Nguyễn Du còn ghi lại cảnh những thây người chết đói với những hột táo lọt túi lăn bên mình , cảnh mấy mẹ con bồng, bế nhau, dắt díu nhau thất tha thất thểu dọc đường, làm thuê không đủ sống, đi xin cũng không đủ sống, sớm muộn ắt đến bỏ thây nơi ngòi rãnh. Tuy chỉ là cảnh chợt thấy trên đường đi. trong lòng Nguyễn Du đã cỏ một niềm cảm thông sấu sắc Mẫu tử bất túc tuất, Phủ nhi tăng đoạn trường Kỳ thống tại tâm đầu. Thiên nhật giai vị hoàng. Mẹ chết đã đành rồi, Trông con thêm đứt ruột. Nỗi lòng đau đớn lạ thường. Mặt trời cũng vì người mà vàng úa . Tấm lòng của Nguyễn Du trước những cảnh đời cơ cực rất giống tấm lòng của Đỗ Phủ. Đi qua mộ Đỗ Phủ ông từng có thơ viếng và ứa nước mắt khóc nhà thi hào Trung quốc . Nhưng không phải chỉ trên đường đi sứ Nguyễn Du mới trông thấy những cảnh đau lòng. Trong Văn chiêu hồn, Nguyễn Du đã dựng lên cả một thế giới bi thảm với từng đoàn cô hồn nheo nhóc Thở than dưới đất ăn nằm trên sương.. Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn, Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra. Lôi thôi bồng trẻ giắt già. Thế giới những cô hồn ấy chính là hình ảnh tập trung của những bất trắc, những oan khuất vẫn chồng chất trong cuộc đời thực. Có đủ các loại cô hồn và Nguyễn Du muốn bao dung tất cả trong một thứ tình thương không đẳng cấp. Nhưng tấm lòng của Nguyễn Du vẫn cứ nghiêng về những cuộc đời cay cực nhất, những người lính đã bị chết oan trong các cuộc chiến tranh của vua chúa và giờ đây Lập lòe ngọn lửa ma trơi, Tiểng oan văng vẳng tối trời càng thương, những người đàn bà xấu số Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa. Ngẩn ngơ khi trở về già, Ai chồng con tá biết các em chết yểu Kìa những đứa tiểu nhi tâm bé, Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha. Lấy ai bồng bế xót xa, U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng. Câu thơ nấc lên như một tiếng khóc. Lòng ưu ái của Nguyễn Du đối với quần chúng và những cảnh sinh hoạt gian nan của quần chúng thấy rất rõ qua Văn chiêu hồn. Nguyễn Du thông cảm với những cảnh đói rét không thể chịu được Sống đã chịu một bề thảm thiết, Ruột héo khô da rét căm căm. Nguyễn Du thông cảm với những cảnh làm ăn cực khổ, chạy ngược chạy xuôi. Nội một câu Đòn gánh tre chín dạn hại vai. cũng đủ nói Nguyễn Du đã đi sâu như thế nào vào những cảnh sống gian nan, vất vả. Nguyễn Du cũng đã vẽ lên một bức tranh rất đau xót về các kiểu chết oan của con nhà kẻ khổ Kìa những kẻ chìm sông lạc suối, Cũng có người sẩy cối sa cây, Có người leo giếng đứt dây, Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành. Người thì mắc sơn tinh thủy quái, Người thì phải nanh khái ngà voi, Có người hay đẻ không nuôi, Có người sa say, có người khốn thương. Rõ ràng đối với cuộc sống lầm thai của quần chúng. Tấm lòng Nguyễn Du vẫn thường áy náy không yên. Càng áy náy không yên trong cảnh riêng mình sung sướng. Hai lần trong bài sở kiến hành và trong bài Thài bình mại ca giả, sau khi thuật lại cảnh đói khổ trông thấy dọc đường đi sứ, Nguyễn Du nhìn lại những yến tiệc linh đình mà chính minh được hưởng trong lòng hết sức băn khoăn. Ta biết Nguyễn Du từng trải qua cảnh đói rét trong nhiều năm. Ngay khi đã ra làm quan với Gia-Long, cảnh nhà ông vẫn nheo nhóc Thập khẩu để cơ Hoành lĩnh bắc, Nhất thân ngọa bệnh đế thành đông. Mười miệng ăn kêu đói ở phía bắc Hoành-sơn, Một mình đau ốm nằm phía đông thành vua. Không trải qua những cảnh ấy, không dễ mà có tấm lòng ấy. Trong vô số những nạn nhân của cuộc đời cũ, Nguyễn Du đặc biệt trân trọng và xót thương những người có tài có sắc. Với Nguyễn Du, họ là những hình ảnh tập trung về số kiếp bi đát của con người trong một cuộc đời bế tắc. Ngòi bút của Nguyễn Du đã gợi lên khá nhiều những hình ảnh như vậy. Tiêu biểu nhất là hỉnh ảnh nhân vật Thúy Kiều. Thúy Kiều là một người tài sắc tuyệt vời. Nhưng nói có tài có sắc ở đây chung qui lại cũng là nói có tình. Bởi vì cái tài của Kiều, cụ thể là tiếng đàn của Kiều, cái sắc của Kiều, cụ thể là cái vẻ mặn mà nồng thắm, trước hết là biểu hiện cái tình. Kiều không phải là người có thể dửng dưng trước mọi việc ở đời mà là người hay động lòng, suy nghĩ. Trong cảnh chơi xuân nô nức, dễ mấy ai để ý đến một nấm mồ vô chủ. Nhưng Kiều đề ý, hỏi han, thắp hương, khấn vái và thương xót không nỡ dời chân. Đến khi nàng yêu thì đó cũng là một thứ tình yêu đấm say, mãnh liệt Tình trong như đã mặt ngoài còn e Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê Yêu nhau, nàng chủ động xây dựng hạnh phúc với người yêu. Gót chân nàng thoăn thoắt » đi sang nhà Kim Trọng, cái hình ảnh nàng xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình » bây giờ đây vẫn còn có thể làm cho một số người ngơ ngác, phân vân. Nhưng thiết tha vời hạnh phúc của minh, nàng lại càng thiết tha hơn nữa với hạnh phúc của người. Trước cái nguy cha em bị bắt, bị đánh đập, có thể bị đánh đập đến chết, nàng không chút ngần ngại, nàng dứt khoát hi sinh Dễ cho để thiếp bán mình chuộc cha Ai không mong cho một con người như vậy được hưởng hạnh phúc Nhưng hạnh phúc nàng toan nắm được trong tay thì cuộc đời cướp mất. Bị đầy đọa vào những cảnh vô cùng ô nhục, giữa vòng vây trùng trùng điệp điệp của một xã hội bất nhân, nàng vẫn cố vùng dây, cố làm chủ lấy đời mình. Nhưng mỗi lần nàng cố cất đầu ra khỏi bùn nhơ là một lần lại bị dúi xuống. bị đạp xuống sâu hơn một tầng nữa. Mà nào nàng có mơ ước chuyện gì cao xa đâu. Cái mơ ước của nàng có khi thật bé nhỏ, thảm hại. Nàng tính tới, tính lui, thậm chi chịu tra tấn đến cực hình để được yên thân làm một người vợ lẽ. Thế mà rồi cũng không xong. Tất cả những cố gắng, những mơ ước lớn nhỏ của nàng đều tan ra như mây khói. Đời nàng không chỉ là một tấn bi kịch mà là một chuỗi dài những bi kịch kế tiếp nhau. Có lúc nàng đã thấy mỏi nhưng rồi nàng lại gắng gượng. Cứ thế cho đến lúc sau bao nhiêu lần bị vùi dập và trước cảnh bị vùi dập một lần cuối cùng, bất ngờ và đau đớn hơn lần nào hết, nàng thấy mỏi mệt vô cùng không còn có sức nào cưỡng lại nữa. Lúc đó là lúc Từ Hải chết. Đành rằng về sau còn có cảnh đoàn viên. Nhưng một đôi trai gái gặp nhau, yêu nhau giữa lúc đang tuổi thanh xuân, thế rồi xa nhau mười lăm năm trời. Đến khi gặp lại nhau thì người đã có vợ có con, người đã thân tàn hoa tạ. Nàng vui làm sao cho được? Đời Kiều là một tấm gương oan khổ, một câu chuyện thê thảm về vận mệnh con người trong xã hội cũ. Dựng lên một con người, một cuộc đời như vậy là một cách Nguyễn Du phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề của thời đại. Lời phát biểu ấy trước hết là một tiếng kêu thương. Một tiếng kêu não nùng, đau đớn, suốt trong quyển truyện không lúc nào không văng vẳng bên tai. Tiếng kêu thương ấy, Nguyễn Du đã gửi vào thân thể một người đàn bà vì cải cách của xã hội cũ đối với người đàn bà đặc biệt nặng nề, cay nghiệt. Nhưng nói đến một người đàn bà mà thực ra Nguyễn Du đã nói dùm nỗi niềm cho tất cả những người bị đày đọa. Chính vì vậy mà trong hơn một trăm năm qua, hàng trăm vạn người đã xem Truyện Kiều là chuyện của mình và mượn lời thơ của Nguyễn Du làm một tiếng than bi thiết. Trải qua một cuốc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Câu thơ ấy, đúng như anh Tố Hữu nói, còn đọng nỗi đau nhân tình». Nỗi đau của hàng vạn vạn kiếp sống lầm than, cơ cực. Vận mệnh của con người, đó là mối băn khoăn lớn của Nguyễn Du cũng như của các nghệ sĩ ưu tú xưa nay. Không phải vận mệnh của con người nói chung mà của những người bị khinh khi, bị chà đạp. Ngay trong Văn chiêu hồn khi Nguyễn Du muốn học theo nhà Phật yêu thương tất cả mọi người thì phần thiết tha nhất trong tình ca cua Nguyễn Du vẫn hướng về những con người bị chà đạp. Đối với những kẻ đã chà đạp lên con người thì mặc dầu lúc đó Nguyễn Du không muốn oán trách ai, trong lòng Nguyễn Du tự nhiên cũng cứ bật lên những lời oán trách . Gió mưa sấm sét đùng đùng Dãi thây trăm họ làm công một người Trong Truyện Kiều, sự phân biệt lại càng rõ ràng, dứt khoát. Nguyễn Du xót thương cho Kiều bao nhiêu thì lại càng căm ghét cái bọn chúng nó làm khổ Kiều, Nguyễn Du ghét cay ghét đắng các thứ quan lớn quan nhỏ trong xã hội Truyện Kiều, ghét từ cái đám sai nha bắng nhắng, hách dịch, độc ác, dơ dáy chúng nó đã ập vào nhà họ Vương như một đám “ruồi xanh” đến cái ông “tổng đốc trọng thần” Hồ Tôn Hiến tuy nói là “kinh luân gồm tài” nhưng không thấy có cái tài nào khác ngoài cái tài phản trắc và dâm ô. Đối với hắn, Nguyễn Du nể nhiều bởi vì hắn quyền cao chức trọng, trong trí Nguyễn Du còn có chỗ phân vân. Nhưng trong lòng Nguyễn Du thì yêu ghét vẫn phân minh. Ngòi bút Nguyễn Du vẫn ấm ức, Nguyễn Du đã thuật lại cảnh Hồ Tôn Hiến nghe đàn Nghe càng đắm, ngắm càng say Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình. Cái thứ “mặt sắt” mà “ngây vì tình” ấy quá không lấy gì làm đẹp ! Ông quan đã thế, lại còn bà quan nữa. Đại biểu cho bà quan ở đây là mụ mẹ Hoạn thư. Chưa nói đến cái tội của mụ đã cùng con bày mưu kế đốt nhà, cướp người, hành hạ người đến cùng cực, nội cái thói oai vệ của mụ cũng đủ dễ ghét Ban ngày sáp thắp hai bên Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà Chắc không phải vô tình mà Nguyễn Du đã thu xếp cho mụ ta cái kiểu ngồi chễm chệ ấy. Bên cạnh cái bọn có quyền thế này là cả một lũ lưu manh đủ kiểu từ bọn chuyên nghề buôn thịt bán người đến bọn Khuyển Ưng nhà họ Hoạn. Bọn này hay bọn kia đều chỉ biết có tiền. Quan lại vì tiền mà bất chấp công lý; sai nha vì tiền mà tra tấn cha con Vương ông; Tú bà, Mã giám sinh, Bạc bà, Bạc Hạnh vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người; Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm ; Khuyển Ưng vì tiền mà lao vào tội ác cả một xã hội chạy theo tiền Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê Tài tình, hiếu hạnh như Kiều cũng chỉ là một món hàng buôn qua bán lại. Cho nên Nguyễn Du căm ghét vô cùng cái sức nặng của đồng tiền nó đè lên những kiếp người tay không và lương thiện. Một vấn đề lớn đối với mỗi chúng ta trong đạo làm người là vấn đề yêu và ghét, nói một cách khác là vấn đề phân biệt bạn thù. Lấy thù làm bạn, xem bạn là thù là một sai lầm nguy hiểm như thế nào, chúng ta đều biết. Có người không sai lầm đến thế, đối với thù cũng gọi là có ghét, đối với bạn cũng gọi là có yêu, nhưng yêu ghét hững hờ, nhạt nhẽo, phải nói là chưa thực sự biết ghét và biết yêu. Nguyễn Du rõ ràng không phải là người như thế. Nguyễn Du đã yêu thương là yêu thương hết mức và căm giận nói chung cũng căm giận đến điều. Yêu thương những người dân lành bị chà đạp và căm giận tất cả những kẻ nào, tất cả những gì vô cớ chà đạp lên con người. Yêu thương và căm giận đến mức không thể nào không cho vung lên một cây gươm để quét đi bao nhiêu bạo tàn, bao nhiêu dơ dáy. Cây gươm của Từ Hải đã vung lên bất chấp mọi kỷ cương thời ấy ; sấm sét đã nổ vào đầu lũ bất nhân; cuộc đời Thúy Kiều bỗng rực sáng lên; câu thơ Nguyễn Du như muốn hát vang lên, hỉ hê, sung sướng. Và như thế là Nguyễn Du đã làm một việc rất táo bạo mà rất đúng, khác xa các thứ đạo lý tự cho là cao thượng giờ đây vẫn đang ra sức mê hoặc người ta Nguyễn Du đòi cho người bị áp bức cái quyền được dùng bạo lực mà trả thù và trị tội. Kế đó Từ Hải bị giết, vì dại dột tin người mà bị giết. Trời đất lại tối sầm lại và ngòi bút Nguyễn Du căm giận, buồn tủi đến nghẹn ngào. Thái độ ấy đối với Từ Hải, thái độ ngang nhiên ca ngợi và thương tiếc một người làm giặc» ít nhất ra là không bình thường ở một nhà nho nhất là khi nhà nho đó lại là một ông quan. Nhưng chúng ta đều biết Nguyễn Du không thú vị gì với việc làm quan và vẫn khinh bỉ vô cùng những ai chỉ nuôi cái mộng làm quan. Trong thơ chữ Hán hai lần Nguyễn Du chỉ trích Tô Tần. Ông thuật lại chuyện Tô Tần khi thất chí trở về nhà bị khinh rẻ như thế nào, khi đắc chí trở về được trọng vọng như thế nào. Ông nhắc lại câu Tô Tần trách chị dâu Sao trước khinh mà nay trọng» và xem đó là một lời nói cực kỳ bỉ ổi… Hợp tung bất tại khước cường Tần Đãn hướng sở thân kiêu phú quí Thích cổ nguyên vị quyền lợi mưu Ta hồ thử nhân tiểu tai khí Mưu hợp tung không nhằm đầy lùi nước Tần cường bạo Mà chỉ cốt lấy phú qui vênh váo với người thân Đâm dùi vào vế vốn là để mưu quyền lợi Ôi khi cục con người ấy mới bé nhỏ làm sao Chắc chắn không phải vô cớ mà Nguyễn Du nhắc đi nhắc lại chuyện Tô Tần. Khi Nguyễn Du viết những bài này, chế độ nhà Nguyễn đã đứng được trên mười năm, con cháu Tô Tần chắc đang trên đà sinh sôi nẩy nở. Thái độ khinh bỉ và căm giết của Nguyễn Du đối với bọn quyền cao chức trọng ta càng thấy rõ hơn nữa trong những bài thơ về Khuất Nguyên, nhà chí sĩ và nhà thơ vĩ đại cua nhân dân Trung-quốc. Khuất Nguyên có lẽ là người Nguyễn Du tưởng nhớ nhiều nhất. Hiện ta còn giữ được đến năm bài thơ của Nguyễn Du về Khuất Nguyên mà bài nào lời thơ cũng thấm thía. Người đọc có cảm giác như Nguyễn Du đã tìm thấy ở Khuất Nguyên một con người đồng điệu. Tấm lòng thanh cao của Khuất Nguyên, tài trí tuyệt vời của Khuất Nguyên, cả cái tình cảnh éo le của Khuất Nguyên, Nguyễn Du đều thấy như có gì giống với minh. Thời thế lúc này, Nguyễn Du cũng thấy nó không hơn gì thời Khuất Nguyên còn sống. Trong bài Ngũ nguyệt quan canh độ, nhắc lại việc bao nhiêu đời người ta gọi hồn Khuất Nguyên mà hồn vẫn không về, Nguyễn Du viết Hồn nhược qui lai dã vô thác Long xà quỉ quắc biến nhân gian Hồn mà trở về thì cũng không biết nương tựa vào đâu Khắp trên cõi người đầy những loài rắn rồng, quỉ quắc Ý này, một lần khác, Nguyễn Du đã phát triển thành một bài thơ kiệt tác tức là bài Phản chiêu hồn. Trái với thói thường, Nguyễn Du gọi hồn Khuất Nguyên, và bảo với hồn đừng có trở về cõi đời này vì cõi đời này ghê tởm quá. Yên, Sính, những mảnh đất quen thuộc với Khuất Nguyên giờ đây như thế nào ? Thành quách do thị nhân dân phi Trần ai cổn cổn ô nhân y Xuất giá khu xa, nhập cứ tọa, Tọa đàm lập nghị giai Cao, Quì Bất lộ trảo nha dữ giác độc Giảo tước nhân nhục cam như đi Thành quách vẫn như cũ, nhân dân thì khác rồi. Cát lầm bụi đọng nhơ nhớp cả quần áo người. Họ ra ngoài ngựa ngựa xe xe, họ ngồi nhà vênh vênh váo váo. Họ đứng ngồi bàn tán y như ông Cao, ông Quì, Họ không để lộ vuốt nanh và nọc độc, Nhưng họ nhai xẻ thịt người thì ngọt xớt như đường Chúng ta biết Nguyễn Du với tư cách là tôi cũ của nhà Lê trong khi ra làm quan với nhà Nguyễn đã bị bọn quan lại đương thời chèn ép, đến nỗi ngay đám nha lại dưới quyền ông có khi cũng lên mặt với ông. Giọng thư đầy oán giận này chắc có phần bắt nguồn từ cái thế bị chèn ép ấy. Nhưng Nguyễn Du oán giận không phải chỉ vì mình mà còn vì những cảnh đau xót trong Văn chiêu hồn, vì hình ảnh ông già mù đi hát rong, vì tất cả những cảnh cơ cực mà Nguyễn Du rất thông cảm vì chính Nguyễn Du cũng đã trải qua. Ngay trong bài Phản chiêu hồn, cái nhìn rất ghê tởm của Nguyễn Du đối với bọn ăn thịt người cũng gắn liền với một cái nhìn rất đau xót đối với quần chúng lao khổ Quân bất kiến Hồ-nam sở bách châu Chỉ hữu sấu tích vô sung phì Kìa hồn không thấy mấy trăm châu ở Hồ-nam Toàn xơ xác, gầy còm, không một người nào béo tốt Ở đây cũng như ở Truyện Kiều vẫn một cái nhìn rất bi đát và đầy phẫn uất đối với cuộc đời. Nhưng ở đây cũng như ở Truyện Kiều, Nguyễn Du chưa nhìn được rõ nguồn gốc sâu xa của mọi điều ngang trái, Nguyễn Du hoàn toàn chưa nhìn thấy lối ra Ngư long bất thực sài hổ thực Hồn hề, hồn hề, nại hồn hà Cá rồng không nuốt thì hùm sói nuốt Hồn ơi, hồn hỡi, biết làm thế nào bây giờ? Đó là nhược điểm lớn của Nguyễn Du cũng như của nhiều nhà thơ nhà văn khác thời xưa. Cái nhìn bế tắc ấy gắn liền với những tư tưởng định mệnh, hư vô, với cái chất buồn chán có khi nó tràn vào thơ văn Nguyễn Du như một thứ âm khí nặng nề mà chỉ có ánh sang của thời đại chúng ta, sức chiến đấu và tinh thần lạc quan của chủ nghĩa Mác- Lê-nin, mới xua tan đi được. Cái nhìn bế tắc ấy cũng ảnh hưởng đến thái độ yêu ghét của Nguyễn Du. Chẳng những trong Văn chiêu hồn mà cả trong Truyện Kiều, Nguyễn Du từng có khi lúng túng. Nguyễn Du rất ghét Hồ Tôn Hiến nhưng khi Nguyễn Du giới thiệu hắn ta Có quan tổng đốc trọng thân Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài. thì đó có phải là một lời nói nữa không? Chưa chắc. Nguyễn Du kể một câu chuyện đau đớn đến đứt ruột. Nhưng Nguyễn Du lại nói rõ câu chuyên ấy đã xả ra trong cái bối cảnh Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng Vô tình hay cố ý? Trong khi bao nhiêu oan khuất cứ chồng chắt lên cuộc đời Kiều, bao nhiêu tiếng kêu trời cứ vọng lên không ngớt thì kẻ tự xưng là con trời, thay trời trị nước lại không hay biết gì hết. Nhưng rồi chính Kiều lại là người hết lời ca ngợi công đức nhà vua Rằng ơn Thánh-đế dồi dào, Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu Bình thành công đức bấy lâu Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao ! Những lới ấy trong miệng con người ấy thật cũng lạ. Nhất là liền sau câu nói ấy và chính do câu nói ấy mà Thúy Kiều sẽ mắc phải cái tai họa lớn nhất và bước vào bước đường cùng quẫn nhất của đời mình. Vô hình trung câu nói kia biến thành một lời nói mỉa mai chua chát. Nhưng khó mà tin rằng Nguyễn Du đã có dụng ý mỉa mai. Vấn đề Nguyễn Du đặt ra không phải là vấn đề thay đổi một ông vua hay một triều đại, trên thực chất chính là vấn đề chế độ. Nhưng Nguyễn Du lại không biết thế nào là một chế độ Nguyễn Du chỉ biết cuộc đời như Nguyễn Du trông thấy và cảm thấy là không thể chịu được nữa rồi. Nguyễn Du không thấy có cách, nào thay đổi nó đi, ông cũng không nghĩ đời là chuyện có thể thay đổi được. Do đó mà cả trong yêu ghét cũng có những khi Nguyễn Du lúng túng, phân vân. Tuy vậy, nhìn chung lại, mặc dầu không thấy có đổi ra, Nguyễn Du vẫn không đến nỗi lạc đường trong tình cảm. Trước cuộc đấu tranh tàn khốc giữa một bên là những thế lực gian ác nó ngự trị trên cuộc đời cũ, một bên là hàng vạn con người cơ khổ, thái độ Nguyễn Du thường vẫn rõ ràng, tình cảm Nguyễn Du chân thành, sâu sắc. Nói đến Nguyễn Du trước hết là nói đến một trái tim lớn tưởng chừng như giờ đây vẫn còn bồi hồi, thồn thức vì những nỗi khổ đau từ nghìn xưa của nhân loại. Nói đến Nguyễn Du cũng là nói đến một nghệ sĩ lớn. Cũng nên nói thêm không có một trái tim lớn không thể thành nghệ sĩ lớn. Văn chiên hồn là một hình ảnh xót xa về cuộc sống trên đất nước chúng ta ngày trước. Mấy trăm bài thơ chữ Hán là những lời tâm sự của một người nhiều băn khoăn, day dứt. Cố nhiên không phải bài nào cũng hay. Nhưng cũng có đến mấy chục bài hay, có thể nói là rất hay. Tuy vậy nói đến thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du thì trước hết vẫn là nói đến Truyện Kiều. Về nghệ thuật Truyện Kiều, người ta đã nói nhiều và về nhiều mặt. Nhưng, cái gì là chính trong giá trị nghệ thuật của Truyền Kiều ? Cái chính, theo chúng tôi nghĩ, là ở chỗ Nguyễn Du đã tái tạo lại cuộc sống đương thời và sáng tạo ra một thế giời có thật. Trong thế giới ấy có những con người rất sống, rất thật. Cũng bởi vì rất sống, rất thật nên không ai giống ai và lấy riêng từng người thì cũng có khi thế này khi thế khác. Người ta thường đế ý mấy lần Kiều nhớ nhà, mấy lần Kiều đánh đàn đều mỗi lần một khác. Bao nhiêu lần chia ly cũng mỗi lần một khác. Thậm chí cũng nà chuyện giã nhà ra đi với Mã giám sinh thế mà khi mới ra đi một tâm trạng Đoạn trường thay, lúc phân kỳ! Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh sau bữa tiệc ở trường đình lại một tâm trạng khác Đùng đùng gió giục mây vần Một xe trong cõi hồng trần như bay Nhưng muốn hiểu con người Thúy Kiều chân thực và sinh động như thế nào trong tâm trí Nguyễn Du, không gì bằng nghe lại một ít lời nàng nói. Chúng ta nhớ cái hôm lần đầu tiên những lới nói yêu đương của Kim Trọng cứ thấm dần, thấm dần vào người nàng Lặng nghe lời nói như ru Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng khiến nàng bâng khuâng ngây ngất bỗng thốt ra những lời tựa hồ vô lý Rằng Trong buổi mới lạ lùng Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang . Nhưng lại rất phù hợp với cái lý của tình yêu. Rồi những lời vẫn rất dễ yêu mà đoạn chính khi nàng ngăn đón chàng Kim Thưa rằng Đừng lấy làm chơi Dẽ cho thưa hết một lời đã nao ! Những lời bình tĩnh, dịu dàng khi nàng khuyên can người cha đau khổ Lượng trên dù chẳng dứt tình Gió mưa âu hẳn tan tành nước non Thà rằng liều một thân con Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây Phận sao đành vậy cũng vầy Cầm như chẳng dậu những ngày còn xanh Cũng đừng tính quẩn lo quanh Tan nhà là một thiệt mình là hai Nàng Kiều của Thanh Tâm tài nhân cũng khuyên cha nhưng không khuyên như thế. Ở đây cũng như trong toàn bộ Truyện Kiều, rõ ràng Nguyễn Du đã mượn một câu chuyện của Trung-quốc nhưng chính là để nói tâm tình Việt-nam. Ta nghe giọng nói của nàng Kiều Nguyễn Du đúng là giọng nói một người con gái Việt-nam. Con người dịu hiền là thế nhưng rồi đến phong trần cũng phong trần như ai ». Rơi vào nơi nước sôi lửa bỏng, nàng cũng buộc phải có những lối nói năng khác để đối phó với bọn mặt người dạ thú. Khi Sở Khanh dẫn xác đến định chối biến đi và vu vạ, nàng cũng biết nói những lời mát mẻ Nàng rằng Thôi thế thì thôi ! Rằng không thì cũng vâng lời rằng không Đến khi Sở Khanh định hành hung thì nàng chỉ tay chửi thẳng Nàng rằng Trời nhẽ có hay ! Quyến anh, rủ yến, sự này tại ai ? Đem người đẩy xuống giếng khơi, Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay ! Còn tiên tích việt ở tay Rõ ràng mặt ấy mặt này chớ ai. Từ đó về sau ta còn được nhiều lần nghe Kiều nói, lần nào cũng đúng là giọng nói của người con gái ấy nhưng lại không có lần nào giống lần nào. ít có người trong truyện- cảnh ngộ éo le và tầm tư phong phú như Thúy Kiều. Cũng ít có người viết truyện gắn bó với nhân vật của mình sấu sắc như Nguyễn Du. Kiều rạo rực yêu đương mà băn khoăn vì số phận, liều lĩnh đi tìm hạnh phúc mà e thẹn, ngập ngừng, rồi những phút đau đớn phẫn uất, buồn tủi, chán chường, nhớ nhung, sợ hãi, những phút cuộc sống bỗng trở nên tưng bừng và rộng bao la, những phút liền sau đó cùng đường tuyệt vọng và cả cái cảnh đoàn tụ về sau vui dở buồn dở Những từ sen ngó đào tơ Mười lăm năm mới bây giờ là đây Tình duyên ấy hợp tan này Tất cả những diễn biến muôn hình nghìn vẻ ấy trong cảnh ngộ, trong tâm tư của Kiều, Nguyễn Du đều thấu suốt, đều cảm thông, có lần Kiều bị đánh, Nguyễn Du đang kể chuyện bỗng kêu lên một tiếng Hóa nhi thật có nỡ lòng Làm chi giày tía vò hồng lắm nao ! Tưởng chừng như những làn roi quất vào người Kiều đã khiến Nguyễn Du thấy đau đến trong da thịt. Gô-rơ-ki nói “Khi đọc Tôn-xtôi ta có cảm giác là các nhân vật có thật, có xương, có thịt… ta tưởng như nhìn thấy họ trước mắt ta, ta lấy tay sờ họ được”. Chúng ta đọc Truyện Kiều đều cùng chung một cảm giác ấy. Một bà cụ nông dân một hôm nói với tôi “Nước Nam mình đẹp nhất có con Kiều. Mà khổ nhất cũng con Kiều. Thương nó quá”. Những nhà nho hoặc khinh ghét Kiều như Nguyễn Công Trứ, Huỳnh Thúc Kháng hoặc yêu mến Kiều như Mộng liên đường, Chu Mạnh Trinh cũng đều xem Kiều là người có thật. Mộng liên đường viết “Dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn, như đứt ruột”. Còn Chu Mạnh Trinh thì có thể nói là không những say Truyện Kiều, say văn chương Truyện Kiều mà chính là say nàng Kiều y như say một giai nhân có thật. Con người ấy từ lâu đã sống trong lòng hàng triệu người và được quí trọng, được âu yếm, được yêu mến đến say mê. Kiều đã từ tiểu thuyết đi vào cuộc đời và nhiều khi người ta đã quên không còn nhớ Kiều là ngươi trong tiểu thuyết. Nội chừng ấy cũng đã nói lên thành công lớn của Truyện Kiều về nghệ thuật. Nhưng trong Truyện Kiều còn có bao nhiêu người khác, có chàng Kim, con người rất mực chung tình, có Thúy Vân, cô em gái ngoan, có Hoạn thư, người đàn bà bản lãnh khác thường, biết điều mà cay nghiệt, có Thúc sinh, anh chàng sợ vợ, có Từ Hải chợt hiện ra chợt biến đi như mộ vì sao lạ, mỗi người một cá tính khó quên. Đối với bọn nhà chứa, ngòi bút Nguyễn Du không tò mò, Nguyễn Du ngại bới ra những gì quá dơ dáy, Nguyễn Du chỉ ghi vội vài nét. Nhưng chỉ vài nét cũng đủ khiến cả cái xã hội ghê tởm đó sống nhô nhục dưới ngòi bút Nguyễn Du với cái màu da “nhờn nhợt” của Tú bà, cái bộ mặt “mày râu nhẵn nhụi” của Mã giám sinh, cái vẻ “chải chuốt dịu dàng” của Sở Khanh, cái miệng thề xoen xoét của Bạc bà, Bạc Hạnh. Nguyễn Du đã nhìn rất rõ mặt mũi của bọn này. Hơn nữa Nguyễn Du đã nhìn thấu tận trong ruột, đã “đi guốc trong ruột” chúng nó, như người ta thường nói. Nếu không, không thể nào tóm đúng được thần thái gian tà của chúng như vậy. Sở Khanh có vẻ một nhà nho. Nhưng ngay trong hình dáng “chải chuốt dịu dàng» đã có một cái gì tỏ ra rằng Sở Khanh không phải là nhà nho chân chính. Kế đó Sở Khanh nói với Kiều những lời lụa là, ngọt ngào nhưng cũng khó mà tin có một chút tình nghĩa nào trong đó Giá đành trong nguyệt trên mây Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa ? Nghe như một giọng hát rất điêu luyện mà rỗng không. Đến khi Sở Khanh nói những lời khảng khái, lời nói của Sở Khanh rất giống lời một hiệp khách nhưng vẫn không phải là lời hiệp khách Tức gan riêng giận trời già Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng ? Sau khi nghe Kiều kể nông nỗi đầu đuôi thì Sở Khanh Lặng nghe lẩm nhẩm gật đầu Ta đây nào phải ai đâu mà rằng ! Nàng đà biết đến ta chăng, Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi. Chưa nói đến cái dáng ngồi “lẩm nhẩm gật đầu” rất đáng nghi, ngay lời nói cũng có vẻ khoác lác, trống rỗng khác xa những lời nói thực sự ngang tàng của Từ Hải. Trong văn chương, nói trắng cho ra trắng, đen cho ra đen đã là khó. Ở đây lại phải nói trắng mà trên thực chất lại là đen; không được để trắng đen lẫn lộn mà vẫn phải có khả năng lẫn lộn. Nguyễn Du đã vượt được cái khó khăn ấy. Sở Khanh chỉ đi thoáng qua trong truyện mà người đời sẽ mãi mãi không quên ! Xét về mức độ bỉ ổi và trâng tráo thì nó vượt xa tất cả những Sở Khanh có thật ngày trước và ngày nay. Người xưa có kẻ khen một bức tranh vẽ ngựa nói từ khi có bức tranh ấy thì trong thiên hạ không còn có gì đáng gọi là ngựa. Ta cũng có thể nói như vậy về nhân vật Sở Khanh. Nói chung nhân vật của Nguyễn Du, chính diện hay phản diện, đều là “những con người rất sống. Những con người ấy đi lại trong những cảnh cũng rất sống, rất gắn bó với người. Cùng một cảnh nơi mộ Đạm Tiên mà trong buổi chơi xuân thì thanh thanh, lặng lặng Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang Sau khi Kim Kiều gặp nhau, yêu nhau, chưa nói được với nhau một lời đã mỗi người một ngả thì phong cảnh như bâng khuâng một mối tình khó tả Dưới dòng nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha Đến khi Kim Trọng nhờ người trở lại tìm cảnh thì cảnh lại ra chiều dửng dưng, tinh nghịch Một vùng cỏ mọc xanh rì Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu. Kiều không biết mấy lần nhìn trăng nhưng cảnh trăng cũng mỗi lần một khác khi rạo rực yêu đương, khi gần gụi âu yếm, khi bát ngát bao la, khi ám ảnh như một lời trách móc, khi cô đơn, khi tàn tạ, khi mong manh. Có thể nói thiên nhiên trong Truyện Kiều cũng là một nhân vật, một nhân vật thường vẫn kín đáo, lặng lẽ nhưng không mấy khi không có mặt và luôn luôn thấm đượm tình người. Vẽ cảnh cũng như vẽ người, ngòi bút Nguyễn Du không làm theo lối dựa vào cảnh mẫu, người mẫu để ghi chép. Ta có thể hình dung Nguyễn Du như một con người lẳng lặng, ít cười it nói, ít cởi mở với đời, nhưng, tâm hồn thì lại lộng gió mười phương, không một chuyển động nào ở bên ngoài không vang dội sâu trong đó. Cả cuộc đời Nguyễn Du trải qua đã tràn vào trong tâm hồn kỳ diệu ấy, đã gợi lên những rung cảm mãnh liệt, tinh vi, đã đúc lại thành hình tượng. Đến khi Nguyễn Du cầm bút dựng nó lên thì những hình tượng ấy đều chan chứa một sức sống có sẵn từ bên trong. Cũng vì vậy nên nét bút Nguyễn Du là những nét bút có thần và bước vào thế giới Nguyễn Du là bước vào một thế giới sinh động và vô cùng, phong phú. Ở đây, có đủ buồn chán, giận hờn, đau đớn, chờ mong, thương, nhớ, phấn khởi, hả hê, có cái khoan khoái trong một cảnh chơi xuân, cái ghê rợn một đêm khuya vượt tường đi trốn, cái e lệ của tình yêu trong buổi đầu gặp gỡ, cái trắng trợn của một con trùm đĩ, cái tàn bạo của quan lại, cái thô bỉ của sai nha, cái khí thế ngang tàng của một tay anh hùng hảo hán. Nhưng ta kể làm sao cho hết được; vì ở đây, trong thế giới Truyện Kiều cũng như trong thế giới thật của chúng ta, cuộc đời diễn ra muôn màu muôn vẻ, có những điều nhìn rõ, cũng có những điều chỉ cần thấy mơ màng, nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Du thì đều dựng lên như thật, khiến bao nhiêu người xưa nay đọc Truyện Kiều, nghe Truyện Kiều nỗi người trong những hoàn cảnh khác nhau mà không mấy khi không tìm được một ít câu nói đúng những điều mình muốn nói. Không trải qua một cuộc đời nhiều chìm nổi trong một thời đại nhiều biến thiên, không có một tấm lòng thiết tha lớn với vận mệnh, con người, không biết đứng về phía quần chúng mà nhìn mọi nỗi bất công, mọi điều oan khuất, không biết cùng với quần chúng băn khoăn, phẫn nộ, ước mơ, không thể sáng tạo ra một thế giới như vậy. Cũng cần nói thêm không có một cái vốn học sâu rộng, vừa học trong sách vở, vừa học trong cuộc đời, không có sẵn một sức tưởng tượng phi thường, một thứ năng khiếu đặc biệt về ngữ ngôn, về vần điệu cũng không thể dựng lên một thế giới như vậy. Chúng ta có thể nói rất nhiều về cách dùng chữ, đặt câu, cách sáng tạo lại một hình ảnh, cách vận dụng nhịp điệu, âm thanh, về những sự biến hóa trong cách hành văn, về các loại văn trong Truyện Kiều, văn kể chuyện, văn gợi cảnh, dựng người văn tự tình và cả văn kịch, văn đối thoại. Cũng có thể nói đến cách phối hợp bút pháp của văn hào, thi hào Trung quốc, những truyền thống của văn học cổ điển Việt-nam với cái khiếu văn chương hồn nhiên của quần chúng, cái phong phú, cái kiều diễm của ca dao và nhiều nữa. Nhưng chỉ xin nói vắn tắt một điều là về lời, về chữ thì chưa có một nhà văn nhà thơ nào khác sánh kịp Nguyễn Du trong lịch sử văn học Việt Nam. Không ở đâu, tiếng nói của dân tộc lại dồi dào mà chính xác, tinh vi, trong trẻo, truyền đúng cái thần của sự vật và sự việc như ở đây. Đây đó trong lời thơ cũng có những chỗ công thức. Nhưng ở Nguyễn Du, đằng sau những lời có vẻ công thức, không mấy khi ta không thấy hồi hộp một tấm lòng. Người đọc xưa nay vẫn xem Truyện Kiều như một hòn ngọc quý cơ hồ không thể thay đổi, thêm bớt một tí gì, như một tiếng đàn lạ gần như không một lần nào lỡ nhịp ngang cung. Tiếng đàn ấy, hòn ngọc ấy mang cốt cách riêng của Nguyễn Du, của thời đại Nguyễn Du, ta không thể nào nghe lại, thấy lại một lần thứ hai nên lại càng quý. Ngày nay có ai rơi vào cảnh khổ nhục của Thúy Kiều chắc cũng không nói năng văn vẻ như Thúy Kiều Khi về hỏi liễu Chương đài Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay Các thứ gấm vóc lụa là ấy trong văn chương không còn hợp thời nữa. Nhưng Thúy Kiều thì phải nói như thế và gấm vóc lụa là trong câu nói của Thúy Kiều không có hại gì cho tình cảm. Chẳng những thế, nỗi đau xót ở đây càng gói kín lại càng đau. Đúng như đồng bào Thái từng nói cũng về chuyện tình yêu Như xôi bỏng bọc lá tươi Lá tươi bọc lá tươi càng nóng Bàn về thân thế Thúy Kiều, sư Tam Hợp có câu Vậy nên những chốn thong dong Ở không yên ổn ngồi không vững vàng Đứng về một phía nào đó mà nhìn, có thể nói lịch sử thơ văn Nguyễn Du đặc biệt là lịch sử Truyện Kiều cũng long đong như vậy. Từ khi ra đời cho đến gần đây, trong một thời gian rất lâu, Truyện Kiều không hề có một chỗ ngồi cho yên ổn. Người khen khen rất mực, người chê chê cũng hết lời, cứ đặt vấn đề ra là y như rằng có tranh luận và tranh luận hết sức sôi nỗi, say sưa. Rõ ràng đây là một nơi va chạm kịch liệt của nhiều loại quan điểm khác nhau về thế giới, về nhân sinh, về đạo đức, về nghệ thuật, về chính trị. Chỉ từ Cách mạng tháng Tám về sau, thân thế của Truyện Kiều trong xã hội Việt-nam mới đỡ phần ba chìm bảy nổi. Tuy có nhiều vấn đề còn phải thảo luận và chưa phải đã có thể kết luận được ngay nhưng dần dần chúng ta đã xác định được vị trí của Truyện Kiều và của Nguyễn Du trong nước Việt-nam dân chủ cộng hòa nó là vị trí của nhà thơ lớn nhất, của tác phẩm lớn nhất trong văn học cổ điển Việt Nam. Thuyết minh tác giả Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều Qua Truyện Kiều, hãy chứng minh Nguyễn Du là một nghệ sĩ lớn mang trái tim của thời đại
Ma Kết - Gia đình▪️ Nguyễn Du 1765 - 1820 tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.▪️ Gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học cha là Nguyễn Nhiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản từng làm quan to dưới triều Lê - Trịnh.▪️ Nhưng sớm mồ côi cha mẹ mồ côi cha từ năm 9 tuổi, mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi. Hoàn cảnh gia đình cũng có tác động đến sáng tác của Nguyễn Thời đại▪️ Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Các tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn tranh giành quyền lực▪️ Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, xã hội rối ren, cuộc sống của nhân dân cơ cực, lầm tham.▪️ Phong trào khởi nghĩa diễn ra khắp nơi, tiêu biểu nhất chính là khởi nghĩa Tây Sơn do Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo.▪️ Nghĩa quân Tây Sơn đã đánh đổ tập đoàn phong kiến Trịnh, Lê, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân xâm lược nhà Thanh sang xâm đời▪️ Nguyễn Du đã phải sống phiêu bạt nhiều năm ở đất Bắc 1786-1796 rồi sau đó về ở ẩn ở Hà Tĩnh 1796-1802.▪️ Nguyễn Ánh lên ngôi mời ông ra làm quan, bất đắc dĩ ông phải nhận lời 1802. Ông từng được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, chuẩn bị đi lần thứ hai thì bị bệnh mất ở Huế.▪️ Cuộc đời phiêu bạt sống phiêu bạt nhiều nơi trên đất Bắc, ở ẩn ở Hà Tĩnh, làm quan dưới triều Nguyễn, đi sứ Trung Quốc… Vốn hiểu biết sâu rộng, phong phú về cuộc sống của Nguyễn Du có phần do chính cuộc đời phiêu bạt, trải nghiệm nhiều tạo thành.==> Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng vốn sống phong phú, am hiểu nền văn hóa dân tộc đặc biệt là niềm thương cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân, là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa tắt truyện KiềuNăm Gia Tĩnh triều Minh, ở Bắc Kinh bên Trung Quốc có một người con gái tài sắc tuyệt vời là Thúy Kiều. Khi đi Thanh Minh Thúy Kiều đã gặp một chàng trai tài hoa là Kim Trọng. Hai người đã yêu thương và thế thốt với Kim Trọng về hộ tang chú, vì thằng bán tơ vu oan, Kiều phải bán mình chuộc tội cho cha và cho em trai là Vương Ông và Vương Quan. Thúy Kiều đã phải nhờ em gái là Thúy Vân thay mình kết duyên cùng Kim Trọng để giữ vẹn lời thề. Người mua Thúy Kiều là Mã Giám Sinh, một tên buôn người cho Tú Bà ở Lâm Truy. Bị Tú Bà đánh đập ép làm nghề ô nhục, Kiều đã tự tử. Tú Bà tạm thời nhượng bộ, cho Kiều ra ở lầu Ngưng Bích, rồi dùng Sở Khanh lừa Kiều, đánh đập dã man ép Kiều phải tiếp được Thúc Sinh chuộc ra, nhưng lại bị cha của Thúc Sinh là Thúc Ông thưa đến cửa công, bi vợ của Thúc Sinh là Hoạn Thư nhờ mẹ là Hoạn Bà cho bọn đầy tớ là Khuyển Ưng, Khuyển Phệ bắt cóc, rồi biến thành đầy tớ nhà Hoạn Bà, Hoạn Thư. Thúc Sinh tuy có gặp lại Kiều nhưng không dám nhận. Cuối cùng Kiều đã bị Hoạn Thư ép phải đi tu tại Quan Âm Các. Lâm bước đường cùng, Kiều phải ăn cắp chuông vàng, khánh bạc rồi trốn khỏi nhà Hoạn Thư, gặp vãi Giác Duyên, nương náu ở Chiêu An bị gia đình Hoạn Thư biết được, vãi Giác Duyên phải gửi Kiều ở nhà Bạc Bà. Cháu của Bạc Bà là Bạc Hãnh giả danh lấy Kiều rồi bán Kiều vào thanh lâu ở Châu Thai. Nơi đây Kiều gặp Từ Hải, được Từ Hải chuộc ra rồi giúp Kiều báo ân, báo oán. Nhưng Kiều lại bị Hồ Tôn Hiến lừa, khiến Từ Hải bị tử trận còn Kiều thì bị bi gả cho Thổ tủi nhục, Kiều đã nhảy xuống sông Tiền Đường tự trầm, nhưng được vãi Giác Duyên cứu sống, rồi về tu chung với vãi Giác Duyên. Tình cờ, vãi Giác Duyên gặp được gia đình của Kiều tưởng Kiều đã chết, khi đang lập đàn cầu siêu cho Kiều, nên Kiều lại được đoàn tụ với gia đình. Trước áp lực của cả gia đình, Kiều phải làm lễ thành hôn với Kim Trọng, nhưng trong thực tế Kiều đã xin với Kim Trọng không phải làm vợ mà chỉ làm bạn với khảo thêm Tóm tắt tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du 0 Trả lời 26/09/21
thời đại nguyễn du